HAI LẦN ĐÁNH CỨ ĐlỂM ĐỒI A1
Đoạn trích là những dòng hồi ức chân thực và cảm động của một chiến sĩ thuộc Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) về hành trình chiến đấu gian khổ tại cứ điểm A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Câu chuyện bắt đầu từ bước ngoặt lịch sử khi quân ta chuyển phương châm từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc", dẫn đến những ngày tháng kiên trì đào hào, xây dựng trận địa dưới mưa bom bão đạn. Qua đó, tác giả khắc họa sinh động hình ảnh người lính bộ đội Cụ Hồ: từ những phút giây lạc quan, ch
Đầu tháng giêng năm 1954, đại đội tôi (C16) và các đơn vị bạn cùng trong đội hình của Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa, chờ lệnh tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Mỗi chúng tôi từ cán bộ đến chiến sĩ ai cũng mang trên mình một cái bánh chưng và ít cục lương khô đủ ăn trong một ngày rưỡi. Chiến sĩ Lê Văn Tỏ, dáng nhỏ bé, nặng độ 37 kg, có nước da ngăm đen, người Hải Dương chính cống, luôn có nụ cười tươi, nhanh nhảu thay mặt số anh em chạy đến hỏi tôi: “Thủ trưởng ơi! Đánh nhanh thắng nhanh liên tuc trong 3 ngày, vậy còn ngày rưỡi nữa lấy đâu để ăn?”. Nhìn chú lính nhỏ mến yêu, tôi đáp: “Thế cậu không nhớ trước giờ xuất phát, đại đội đã phổ biến chủ trương của trên là khi đánh vào trung tâm Mường Thanh sẽ lấy lương thực của địch để cung cấp cho ta, cậu quên rồi hả?”. Tôi vừa dứt lời thì có lệnh của trên: “Bí mật rút quân về vị trí tập kết, hoãn cuộc tiến công”. Toàn đại đội đang trong không khí hào hứng phấn khởi bỗng dưng lặng xuống ỉu xìu.
Trở về vị trí tập kết, tiểu đoàn trưởng 249 Vũ Hòe quán triệt chủ trương mới của Bộ Chỉ huy chiến dịch. Trước đây ta chủ trương “đánh nhanh, thắng nhanh”, nay do tình hình địch có nhiều thay đổi, chúng đã được củng cố và tăng cường về nhiều mặt, nên ta phải chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc” để bảo đảm tính chủ động và chắc thắng.
Đón chờ lệnh mới, trong những ngày giáp Tết, Điện Biên giá lạnh, lại đóng quân trên quả đồi rậm rạp, tôi bỗng nhớ gia đình, nhớ hậu phương da diết, đêm đó thao thức không sao ngủ được. Tôi sang hầm chiến sĩ, y tá cũng cùng tâm trạng. Hai anh em chúng tôi cùng cậu văn thư và liên lạc của đại đội bảo nhau làm thơ cho khuây khỏa. Trời rét căm căm, chúng tôi thèm thuốc không sao viết được, cả 4 người tìm khắp mọi nơi mới kiếm được một điếu thuốc lào, anh em chia nhau không đủ cho mỗi người một hơi. Đồng chí Hoan y tá, có biệt danh là Hoan lác (anh bị hiếng) giỏi viết báo làm thơ, thèm thuốc đến nỗi phải lấy lá rừng khô quấn lại châm lửa phì phèo mới ra được mấy câu thơ:
“Ôm ấp trong tay chiếc điếu cày
Thuốc lào cạn kiệt thế lá cây
Khói là trước mặt ấm lòng lính
Khoan khoái đợi chờ lệnh đánh Tây”.
Trong khó khăn thiếu thốn, chia sẻ nhau từng hơi thuốc mới thấy thấm thía câu nói: hạt muối cắn đôi, bát cơm xẻ nửa.
Bước vào nhiệm vụ làm đường kéo pháo, xây dựng trận địa tiến công, cả Trung đoàn 174 chúng tôi ai nấy đều hăng say lao vào trận đánh mới - đào hào xây dựng trận địa. Trên 60 ngày đêm liên tục, chiếc xẻng, chiếc cuốc trong tay chúng tôi cùng các chiến sĩ trung đoàn đã hoàn thành trên 15 km đường giao thông hào, gần 6.000 hầm hố và trận địa hỏa lực dưới bom đạn địch thường xuyên bắn phá, mưa dầm gió rét, ruồi vàng, muỗi, vắt tấn công, bệnh tật ốm đau. Một số đồng đội chúng tôi đã phải ra đi vì bom đạn, vì sốt rét. Để thực hiện phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, Trung đoàn 174 được đại đoàn phân công đánh A1 (trước đây chủ trương đánh nhanh thắng nhanh do trung đoàn 98 đảm nhận). Đại đoàn cân nhắc thấy Trung đoàn 174 có nhiều thành tích và kinh nghiệm đánh địch trong công sự vững chắc, là đơn vị đã từng chiến thắng với trận Đông Khê nổi tiếng ở chiến dịch Biên Giới năm 1950, tiêu diệt địch ở cứ điểm boong ke La-ri-ê thuộc tiểu khu Phù Lỗ huyện Kim Anh vào đầu tháng 12 năm 1951 với 6 lô cốt nhỏ bao bọc lô cốt mẹ do đại đội Âu Phi tăng cường chiếm đóng. A1 là cứ điểm mạnh nhất trong các cứ điểm trên các ngọn đồi phía đông của tập đoàn Điện Biên Phủ. A1 có công sự vững chắc được Pháp xây dựng từ trước năm 1940, năm 1945 Nhật xây sửa thêm, nay chúng cải tạo thành cao điểm phòng ngự kiên cố, có tiểu đoàn lính Marốc và Lê dương chốt giữ, xây dựng thành 3 tuyến có hỏa lực mạnh. Ngoài đồn có 3 lớp dây thép gai dày 100 mét xen giữa những bãi mìn để ngăn chặn quân ta đột phá. Chiếm được A1, ta có thể uy hiếp mạnh mẽ khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, khống chế vùng trời, thu hẹp phạm vi tiếp tế của địch bằng máy bay thả dù. A1 còn là lợi thế để quân ta làm bàn đạp vượt qua cầu Mường Thanh, nhanh chóng tiến tới khu chỉ huy sở của tướng Đờcátxtơri.
Từ vị trí tập kết đến sát chân đồi A1 cách nhau vài cây số, đơn vị chúng tôi đã có con đường hào hoàn chỉnh, sâu lút đầu người, được ngụy trang kín đáo. Anh em trong đơn vị sẵn sàng chờ lệnh xông lên. Đây là thời gian chờ đợi náo nức hồi hộp. Niềm tin và hy vọng về chiến thắng Điện Biên bao phủ lên đơn vị chúng tôi. Trước giờ nổ súng, tôi gặp Chính trị viên đại đội Trần Đạm thuộc Tiểu đoàn 251 (cùng trung đoàn) là bạn thân, sinh ra và lớn lên ở Thành Nam, rất mê văn nghệ và bóng đá, đã cùng nhau vài giờ liền phơi nắng, đá bóng bên bờ sông Chu thuộc Thọ Xuân, Thanh Hóa (nơi đóng quân trước lúc lên Điện Biên). Anh có tài vẽ, mỗi tờ báo tường của đơn vị bao giờ cũng có một, hai bức tranh vui của anh. Chúng tôi gặp nhau tay bắt mặt mừng, thăm hỏi sức khỏe và trao đổi với nhau về tình hình đơn vị, công tác chuẩn bị chiến đấu của đơn vị mình. Trước lúc chia tay, hai anh em chúng tôi còn nói vui với nhau: Chiến thắng kỳ này sẽ trở lại Thọ Xuân, Thanh Hóa, nơi nhân dân đã từng nuôi dưỡng mình trước ngày ra trận để lấy vợ nhé! Chuyện đó không ngờ sau hơn 3 năm lại là sự thật. Đám cưới rất đơn giản: vài buồng cau, một cân thuốc lá sợi, ít bánh chè lam, vài cân kẹo lạc cùng nước chè xanh. Tốn kém cả thảy 6, 7 chục đồng lúc đó. Vậy mà vẫn đông như hội, vui như tết. Hiện nay hai anh em chúng tôi đang sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Anh là một họa sĩ. Đầu năm 2002, anh đã tham gia triển lãm ở Hà Nội với những bức tranh khá nổi tiếng. Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và Đại tướng Võ Nguyên Giáp khen và lấy làm tự hào về một chiến sĩ Điện Biên như anh.
Ngày tiến công đã đến, giờ nổ súng đã cận kề. Đại đội tôi (C16) và đại đội 17 do đồng chí Hải Bằng là đại đội trưởng (nay là trung tướng) thuộc Tiểu đoàn 249, đơn vị chủ công của Trung đoàn 174 do đồng chí Lê Sơn tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy đã sẵn sàng. Lê Sơn, người dân tộc Tày, quê ở tỉnh Lạng Sơn, nhanh nhảu, tháo vát, rất vui tính nói chuyện với anh em hay có điệu bộ lắc lắc cái đầu. Đồng chí có đặc điểm nổi bật là nhận bất cứ nhiệm vụ gì cấp trên giao cũng vui vẻ biểu lộ quyết tâm cao. Chả thế mà trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An (sau là Thượng tướng Tư lệnh Quân đoàn 2) thường nói: mỗi lần giao nhiệm vụ cho Lê Sơn là thấy thoải mái yên tâm tin tưởng.
18 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3, lệnh tiến công bắt đầu. Ít phút sau, các chiến sĩ bộc phá của ta đã mở xong cửa. Trong đội hình đầu nhọn đuôi dài, đại đội chúng tôi nhanh chóng tiến lên. Do nổ súng sau các hướng khác nửa tiếng đồng hồ, yếu tố bí mật bất ngờ đã không còn nữa nên bị pháo địch bắn ngăn chặn. Đại đội 17 đi đầu đã nhanh chóng vượt qua lửa đạn đánh chiếm lô cốt đầu cầu chiếm các đoạn hào, quần nhau với địch trên đồi A1. Pháo địch tại Mường Thanh, Hồng Cúm chi viện cho A1 rất dữ dội, kéo dài liên tục, đại đội chúng tôi không tiến lên được, phơi mình trên mặt đất. Một trung đội trưởng và một số chiến sĩ của đơn vị tôi bị thương phải ở lại phía sau. Hơn 1 tiếng đồng hồ, lợi dụng lúc pháo địch vừa dứt tiếng, đại đội tôi nhanh chóng băng qua hàng rào dây kẽm gai tiến vào A1. Từ các ngách giao thông hào trong đồn địch, chúng tôi đánh thốc lên đỉnh đồi, mở hai đợt xung phong nhưng không thể tiến lên được. Địch ở trên cao bắn xả xuống quyết liệt, chiến sĩ này ngã xuống, chiến sĩ kia tiếp tục xông lên bám lấy từng đoạn hào để tiến lên.
Mờ sáng ngày 31 tháng 3, từ hướng Mường Thanh, địch dùng xe tăng cùng bộ binh phản kích. Các chiến sĩ đại đội 16, 17 anh dũng bám chắc trận địa, dùng tiểu liên, lựu đạn đánh trả. Ta và địch quần nhau hơn hai giờ quyết liệt, xác địch chồng chất lên nhau; phía ta lúc này sức tấn công đã giảm, số thương vong cũng nhiều. Đại đội 16 xốc lại còn hơn 1 trung đội, chúng tôi phải lùi về một đoạn hào chiếm được của địch để cố thủ. Đạn và lựu đạn của nhiều chiến sĩ đã hết, chưa tiếp ứng kịp. Đồng chí Hải Bằng, đại đội trưởng đại đội 17 lấy khẩu AK của chiến sĩ hy sinh trực tiếp đấu súng với địch như một chiến sĩ thực thụ. Tôi động viên số anh em y tá liên lạc văn thư đại đội đi kiếm súng đạn, lựu đạn của số chiến sĩ bị thương vong để tiếp tế cho lực lượng chiến đấu ở phía trước. Khoảng 16 giờ, chúng tôi nhận lệnh tổ chức phòng ngự tại chỗ. Đại đội 316 (có lúc gọi là 16) lui về vị trí tập kết để chấn chỉnh củng cố, bổ sung lực lượng. Bộ phận nhỏ của trung đoàn đảm nhiệm nhiệm vụ chốt chặt phần đồi A1 đã chiếm được.
Đêm 31 tháng 3, theo lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Trung đoàn 102 thuộc Đại đoàn 308 thay thế Trung đoàn 174 làm nhiệm vụ chủ yếu tiếp tục tiến công đồi A1. Cả đêm 31 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4, Trung đoàn 102 vẫn không tiêu diệt được A1. Sáng ngày 1 tháng 4, địch chia làm hai hướng phản kích, ở cánh phải chúng bị Trung đoàn 102 chặn lại. Bên cánh trái, địch cho xe tăng mở đường đánh xuống trận địa của Trung đoàn 174. Các chiến sĩ của Trung đoàn 174 dùng tiểu liên, lựu đạn chia cắt bộ binh địch, yểm trợ cho hai chiến sĩ mang Bazôca ra bắn cháy xe tăng địch. Bị mất chỗ dựa, chúng hoảng hốt tháo chạy. Hơn 8 giờ, đại đội 16 do đồng chí Nhượng làm đại đội trưởng, tôi làm chính trị viên được lệnh tiến lên A1 lần thứ hai, tăng cường lực lượng chiến đấu cho trung đoàn. Chúng tôi tiến theo giao thông hào, một mạch vượt qua lửa đạn, nhanh chóng có mặt ở A1, chiếm lĩnh trận địa, chia làm 3 mũi cùng các đơn vị trong Trung đoàn 174 ngăn chặn địch từ trên đỉnh đồi đánh xuống. Địch đông, hỏa lực mạnh, lại có máy bay, pháo binh nhiều đợt bắn phá dữ dội và điên cuồng nhưng đều bị quân ta ngăn chặn. Cánh của đại đội 16 dạt sang phải, tôi gặp đồng chí chỉ huy của đơn vị bạn chưa từng quen biết, có nước da ngăm đen, người tầm thước, có vẻ từng trải. Tôi đoán ở nơi đầu sóng ngọn gió, quyết liệt thế này, cao lắm tiểu đoàn trưởng là cùng. Vừa thấy tôi, đồng chí ấy chỉ sang phải hô lớn: Đồng chí cho anh em giữ vững đoạn hào có ụ súng kia!
Cuộc chiến đấu giằng co giữa ta và địch cho đến chiều, cả hai bên đều không tiến thêm được chút nào.
Từ đêm 1 tháng 4 đến sáng 3 tháng 4, trên đồi A1 diễn ra nhiều đợt phản kích quyết liệt. Pháo binh, máy bay địch bắn phá dữ dội. Cán bộ, chiến sĩ hai Trung đoàn 102 và 174 sát cánh bên nhau chiến đấu vô cùng dũng cảm, tiêu diệt được nhiều địch. Từ ngày 4 tháng 4 mỗi bên giữ nửa đồi A1. Kết thúc đợt tiến công thứ 2, toàn mặt trận khẩn trương chuẩn bị đợt tiến công thứ 3 để kết liễu số phận tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Sau ngày giải phóng Điện Biên, tôi cứ băn khoăn về người chỉ huy gan dạ sâu sát cùng vào sinh ra tử với chiến sĩ ở thời điểm gay go quyết liệt ấy là ai, cấp bậc, chức vụ là gì? Với tôi, anh là một hình ảnh đẹp của người chỉ huy chiến đấu gan dạ mà tôi mong gặp lại để bày tỏ lòng khâm phục. Bốn năm sau, năm 1958, tình cờ chúng tôi gặp nhau ở Trường Sĩ quan Lục quân do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Hiệu trưởng, đồng chí Lê Quang Hòa làm Chính ủy. Lúc đó tôi mới biết người chỉ huy ra lệnh cho tôi trên đồi A1 là Trung đoàn trưởng Hùng Sinh, ngoài dự đoán của tôi lúc gặp anh trên đồi A1. Anh làm trưởng phòng huấn luyện, tôi là cán bộ tuyên huấn nhà trường, chúng tôi bỗng chốc trở nên thân thiết. Sau mỗi lần nói thời sự cho học viên xong, lúc ra về, tôi thường ghé thăm anh. Lần nào chúng tôi cũng nhắc đến kỷ niệm đồi A1 - Điện Biên. Nhiều lần anh vỗ vai tôi và nói: Cậu nên nhớ, không có phương châm “đánh chắc, tiến chắc” thì chúng mình làm gì còn sống đến ngày hôm nay! Lời nói của anh như khẳng định với tôi một vấn đề vô cùng quan trọng không bao giờ quên được.


