“HAI NHÂN CHỨNG SỐNG GIỮA ĐẠI NGÀN TÂY NGUYÊN”
“ÔNG PHAN VĂN BA VÀ BÀ TRẦN THỊ BẢY:
HAI NHÂN CHỨNG SỐNG GIỮA ĐẠI NGÀN TÂY NGUYÊN”
1. Giữa thôn Tân Bằng, có một mái nhà kể chuyện lịch sử
Con đường dẫn vào thôn Tân Bằng– xã Dliê Ya – tỉnh Đắk Lắk những ngày cuối năm lặng gió, nắng vàng nhẹ như trải một lớp mật ong xuống mặt đất đỏ bazan. Cuộc sống bình yên nơi đại ngàn cứ thế trôi, nhưng giữa sự bình yên ấy, có một mái nhà vẫn còn vang vọng những câu chuyện của thời chiến, những câu chuyện mà mỗi lần nghe, người ta lại thấy vững tin hơn, biết ơn hơn với lịch sử dân tộc.
Đó là nhà của ông Phan Văn Ba, sinh năm 1930, nay đã 96 tuổi, và vợ ông – bà Trần Thị Bảy, người phụ nữ 86 tuổi vẫn giữ nụ cười hiền hậu, chậm rãi mà ấm áp. Hai ông bà sống lặng lẽ, giản dị như bao người nông dân khác. Thế nhưng cuộc đời họ lại chất chứa những ký ức hào hùng của cả dân tộc, của hai cuộc kháng chiến trường kỳ.
2. “Con cứ theo Đảng mà đi” – lời mẹ tiễn con vào chiến trận
Ông Ba nằm trên chiếc giường nhỏ, đôi mắt mờ dần theo thời gian, nhưng giọng kể vẫn vững vàng khi nhớ về ngày mình lên đường nhập ngũ. Ông bảo:
"Năm 1952, tôi mới 22 tuổi. Nghe theo tiếng gọi Tổ quốc, tôi xung phong đi bộ đội, vào Trung đoàn 57, Sư đoàn 304. Ngày đi, mẹ tôi nắm tay lại nói: ‘Con cứ theo Đảng mà đi.’ Tôi nhớ mãi câu ấy đến tận bây giờ."
Lời nói ấy như ngọn lửa bất diệt hun đúc trong trái tim ông suốt cuộc đời binh nghiệp. Từ khoảnh khắc ấy, ông mang theo không chỉ ba lô và khẩu súng, mà còn mang theo tình yêu của mẹ, niềm tin của quê hương và trách nhiệm với Tổ quốc.
Khói lửa chiến tranh của chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn còn nguyên trong ký ức. Ông kể về những đêm gùi đạn vượt dốc, mưa rừng lạnh buốt; kể về những lúc ăn cơm nắm cứng như đá mà vẫn phải tranh thủ từng phút; kể về đồng đội ngã xuống trước mắt mà chưa kịp gọi nhau một tiếng cuối cùng.
"Hồi đó cực lắm, nhưng nghĩ đến giải phóng đất nước thì ai cũng quyết tâm." – ông Ba nói, đôi mắt ánh lên niềm tự hào.
Hình ảnh của ông Phan Văn Ba
3. Một đời binh nghiệp – một đời cống hiến
Mười tám năm tham gia cách mạng, ông Ba đã đi qua bao chiến trường, bao thử thách. Những cống hiến ấy được Nhà nước ghi nhận bằng nhiều huân, huy chương cao quý:
Huy chương Chiến thắng hạng Nhì – 1958
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba – 1962
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì – 1971
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất – 1973
Huân chương Kháng chiến hạng Nhì – 1985
Hình ảnh những tấm Huân chương, huy chương của ông Phan Văn Ba còn lưu giữ lại đến hôm nay.
Những tấm huân chương, huy chương ấy nay đã ngả màu theo thời gian, được ông Ba cẩn thận đặc vào khung ảnh. Ông cười hiền:
"Đời tôi chẳng có gì quý ngoài mấy cái này. Đây là kỷ niệm của đồng đội, của cả một thời."
4. Người phụ nữ phía sau chiến hào
Nhắc đến chồng, bà Trần Thị Bảy chỉ khẽ cười – nụ cười của người phụ nữ đã đi bên chồng gần trọn đời người. Bà kể:
"Ông ấy đi bộ đội từ trẻ. Năm 1957 được nghỉ phép mới về cưới tôi. Xong lại đi liền."
Hình ảnh bà Trần Thị Bảy ngồi trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ
Khi ông Ba đi chiến đấu, bà ở nhà tham gia xây dựng nhà cửa, hậu cần phục vụ cách mạng. Nhưng thời ấy, hiểm nguy rình rập. Sợ giặc phát hiện con gái tham gia cách mạng, cha bà đã phải đốt hết các giấy tờ liên quan để bảo vệ gia đình.
Bà không có bằng chứng, nhưng công lao vẫn còn. Năm 1997, Nhà nước công nhận và trao tặng bà Huân chương Kháng chiến hạng Ba – sự ghi nhận muộn màng nhưng xứng đáng cho một người phụ nữ thầm lặng.
Tấm Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước của bà Trần Thị Bảy
Những năm tháng chiến tranh, bà một mình xoay xở, nuôi con, chăm mẹ, giữ nếp nhà. Tất cả để chồng yên tâm ngoài chiến trường. Bây giờ, bà chỉ nói:
"Hồi đó cực khổ cũng chịu. Miễn nước mình độc lập, chồng mình sống trở về là mừng rồi."
5. Nơi lưu giữ ký ức của một thời lửa đạn
Ngôi nhà nhỏ của ông bà ở thôn Tân Bằng vẫn mỗi ngày đón con cháu, đón hàng xóm đến thăm. Những lúc rảnh rỗi, ông Ba lại kể chuyện Điện Biên, kể chuyện đồng đội ngã xuống, kể về những đêm mưa rừng rét buốt.
Chùm ảnh tư liệu

1 / 9










