Anh hùng Lực lượng vũ trang

HẢI PHÒNG ĐI TRƯỚC (20-11-1946), VỀ SAU (13-5-1955) TRONG SỰ NGHIỆP CHỐNG PHÁP

HẢI PHÒNG ĐI TRƯỚC (20-11-1946), VỀ SAU (13-5-1955) TRONG SỰ NGHIỆP CHỐNG PHÁP

Lai Châu12/02/2026Anh hùng vũ trang nhân dân2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 20-11-1946 bắt nguồn từ sự kiện Pháp muốn kiểm soát ngành thuế quan, tranh chấp với người Việt, đã nổ súng vào quân Việt ở phía sông Tam Bạc, gây ra chiến sự. Sự kiện Hải Phòng bắt đầu từ ngày 20-11-1946.


Cuộc chiến đã xảy ra rất ác liệt trong phạm vi 7 ngày cho tới ngày 26-11-1946 theo lệnh của ủy ban bảo vệ thành phố (thực chất là Ủy ban kháng chiến thành phố), lực lượng của ta rút sang Kiến An. Trong 7 ngày chiến đấu ác liệt, có 1 ngày tạm ngừng bắn (ngày 22-11) do có phái đoàn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đại diện là ông Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, can thiệp và điều đình với bên Pháp là tướng La-mi, nhưng do bên Pháp giữ nguyên lập trường của mình là cố tình gây ra trận chiến, cho nên cuộc điều đình đó không thành. Ngày hôm sau (23-11-1946) súng lại nổ. Cuộc chiến đấu lại tiếp tục. Sau khi rút khỏi nội thành, quân ta lại hợp thành mặt trận A, B, C bao vây quân Pháp.


Lực lượng bố trí ở phía tây nam cầu Rào, cầu Niệm. Ở phía tây cầu xe lửa, ta cầm cự tới ngày 25-4-1947 thì Pháp đánh chiếm thị xã Kiến An. Ta đã sáp nhập thành phố Hải Phòng với tỉnh Kiến An thành tỉnh Hải Kiến. Hải Phòng đã bị địch chiếm đóng hoàn toàn, ta đã chuyển sang đấu tranh chính trị là chính, còn Kiến An thì có vùng là địch hậu như vùng An Lão, vùng Kiến Thụy nhưng có vùng là “xôi đỗ” giữa địch và ta, quân ta có thể hoạt động du kích.


Ở Hải Phòng, khi chưa chuyển sang đấu tranh chính trị, từ ngày 20-11-1946 đến ngày 26-11-1946, trong 7 ngày đêm tác chiến ác liệt dưới sự chỉ đạo của Trung ương, kết hợp với sự sáng tạo của địa phương, quân dân ta đã lập những trận đánh lịch sử như tại Nhà hát lớn thành phố, tại Bưu điện thành phố, tại nhà Ga, đánh chiếm sân bay Cát Bi lần thứ nhất (21- 23/11/1946). Quân dân Hải Phòng đã tạo được hình ảnh nhân dân chiến tranh, du kích chiến tranh rất độc đáo, áp dụng cho toàn thể quân dân Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh trường kỳ gian khổ chống Pháp (1946-1954). Hình ảnh đó thể hiện đường lối chiến tranh chống thực dân Pháp. Đó là:

1) Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh nhưng nhất định thắng lợi.

2) Toàn dân đánh giặc lấy 3 thứ quân làm nòng cốt (3 thứ quân đó là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích). Đó là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang của ta.

3) Phân vùng đấu tranh trong địch hậu (có vùng địch tạm chiếm, vùng tranh chấp, vùng du kích) và vùng tự do, môi vùng có phương châm hoạt động riêng.

Ở Kiến An, đã chia vùng ra, có phương châm hoạt động rộng rãi như: huyện An Lão, Kiến Thụy thì hoạt động theo vùng địch hậu; huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo có nhiều xã đẩy mạnh hoạt động du kích như trong hồi ký của đồng chí Nguyễn Sĩ Đó (theo tập 3, Đường 5 anh dũng quật khởi).

- Trận tiêu diệt địch bằng nội ứng vị trí Trung Lăng (Tiên Lãng) ngày 2-6-1952.

- Đánh vị trí địch chiếm đóng. Sau khi học kinh nghiệm đánh vị trí địch ở tỉnh Hưng Yên, Kiến An đã mở ra đánh một loạt vị trí như Tiên Cầu, Thạch Lựu, Sái Nghi, Kim Sơn, phá thủng phòng tuyến sông Văn Úc.

- Đánh chìm tàu chiến và 4 ca nô địch ngày 14-1-1954, diệt gọn số quân đi trên tàu. Và theo hồi ký của Đỗ Tất Yến (tập 4, Đường 5 anh dũng quật khởi), ngày 7-3-1954 Kiến An có trận đánh sân bay Cát Bi là một trận đánh độc lập, ở sâu trong địch hậu, phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Điện Biên Phủ, đã phá hủy nhiều máy bay địch. Bác Hồ đã khen quân dân Kiến An và tặng các chiến sĩ đánh sàn bay danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”.


Như vậy, trải qua 8 năm kháng chiến chống Pháp, đến năm 1954, toàn tỉnh Kiến An với chiến thắng Cát Bi lẫy lừng, đã chuyển sang hoạt động du kích chiến tranh lên cao chưa từng có. Cùng với các tỉnh hoạt động trên đường 5, là Hải Dương và Hưng Yên mở mật trận “công kích trên đường 5” bằng các hoạt động như: đánh địa lỏi lật nhiều tàu hỏa trên đường xe lửa, đánh địch trên đường bộ, phục kích phá hoại đường số 5, mở rộng và củng cố chính quyền cách mạng, đẩy mạnh công tác địch, ngụy vận, làm tan rã hàng ngũ địch v.v... Ta đang thực sự uy hiếp, cất đứt đường 5, thì ngày 20- 7-1954, thực hiện ký kết hiệp định đình chiến ở Đông Dưang ta đã chuyên đấu tranh chính trị là chính buộc đối phương thực hiện đúng hiệp định Giơnevơ, đảm bảo cho ta giải phóng hoàn toàn một nửa đất nước từ vĩ tuyến 17 trở ra. Nội dung đấu tranh của ta bao gồm chống địch di chuyển máy móc và chống cưỡng ép dân di cư vào miền Nam.


Theo hiệp định đình chiến giữa ta và Pháp, địch ra lệnh rút quân và ta tiến hành tiếp quản các vùng như sau:

+ Hà Nội: sau khi ký kết hiệp định, Pháp sẽ rút quân 80 ngày và liền đó ta tiếp quản thành phố.

+ Hải Dương; sau 100 ngày ký kết hiệp định Giơnevơ ta tiếp quản Hải Dương.

+ Hải Phòng và vùng phụ cận: Pháp rút quân sau 300 ngày và ta tiếp quản, giải phóng Hải Phòng và vùng phụ cận.

Đối với vùng 300 ngày, hai bên thỏa thuận lịch rút quân Pháp, ấn định như sau: Pháp sẽ rút quân bắt đầu từ Cẩm Phả ngày 22-4-1955, Hòn Gai ngày 24-4-1955, Quảng Yên ngày 25-4-1955, Kim Thành, Kinh Môn ngày 28-4-1955, rồi đến thị xã Kiến An ngày 10-5-1955, huyện An Dương ngày 12-5-1955, thành phố Hải Phòng, vùng Núi Đèo, Cát Hải ngày 13- 5-1955 và Đổ Sơn ngày 15-5-1955. Ngày 16-5-1955, Pháp rút quân khỏi vịnh Hạ Long, vịnh Lan Hạ, kết thúc toàn bộ việc rút quân Pháp khỏi khu 300 ngày. Nhìn chung, việc rút quân Pháp và bên ta tiếp quản các nơi diễn ra được thuận lợi, đúng kế hoạch, không xảy ra sự cố nghiêm trọng, tuy có việc dân ta chống địch cưỡng ép một số dân vào Nam và chống địch di chuyển một số máy móc?


Như vậy, trong 8, 9 năm chiến đấu gay go, ác liệt và lâu dài chống thực dân Pháp, ta đã giành thắng lợi hoàn toàn ở nửa nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đứng trên tiến trình lịch sử, từ năm 1873 đến năm 1955: từ ngày 13-5-1955 quân dân ta đã quét sạch chế độ thực dân Pháp từ vĩ tuyến 17 trở ra và từ sau 30-4-1975, đất nước Việt Nam được độc lập và thống nhất hoàn toàn.


Ngày 15-5-1955, những tên lính Pháp cuối cùng xuống tàu tại Bến Nghiêng (Đồ Sơn) chấm dứt vĩnh viễn chế độ thực dân Pháp ở miền Bắc Việt Nam

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn