Kể từ ngày 15 tháng 1 năm 1956, ngày Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 666 thành lập Cục Hàng không dân dụng Việt Nam, đến nay vừa tròn 40 năm. Đó là một chặng đường không dài so với lịch sử phát triển ngành hàng không thế giới, nhưng đối với ngành hàng không nước ta, đó là một chặng đường phát triển vượt bậc đầy chiến công và thắng lợi đáng tự hào.
Trưởng thành từ nhỏ đến lớn, từ thô sơ đến hiện đại, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện, ngành Hàng không non trẻ Việt Nam giờ đây đã thực sự trở thành một bộ phận không thể thiếu trong các ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần tích cực vào sự nghiệp đưa cả nước chuyển mạnh sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Có được những thành tựu huy hoàng như vậy là nhờ đường lối đúng đắn của Đảng, với tầm nhìn xa trông rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự quan tâm đặc biệt của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội, nhờ sự che chở đùm bọc hết lòng của nhân dân, là kết quả của tinh thần lao động sáng tạo quên mình, ý chí quyết tâm làm tròn nhiệm vụ của biết bao thế hệ cán bộ, công nhân viên của ngành.
Trước ngưỡng cửa của năm 2000, xu thế giao lưu và hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng, ngành Hàng không dân dụng có một vị trí hết sức quan trọng và gánh vác những nhiệm vụ rất nặng nề đối với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước ta nhằm làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.
Cuốn sách Hàng không dân dụng Việt Nam - Những chặng đường lịch sử do Thường vụ Đảng ủy và Ban lãnh đạo Cục Hàng không dân dụng Việt Nam chỉ đạo biên soạn, là một cuốn lịch sử đầy sự kiện vẻ vang, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản nhân dịp Kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập ngành Hàng không dân dụng Việt Nam.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 12 năm, 1995 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Hàng không dân dụng Việt Nam-Những chặng đường lịch sử« Trả lời #2 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2019, 12:56:41 pm » | LỜI TỰA
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc xây dựng ngành Hàng không dân dụng, đủ sức đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân và tiến lên ngang tầm quốc tế.
Trưởng thành từ Không quân vận tải, phát huy truyền thống Dũng cảm - Mưu lược - Sáng tạo của Không quân Nhân dân, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam đã mạnh dạn cải tiến quản lý, từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, luôn coi trọng đào tạo cán bộ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế, xứng đáng là một trong những ngành kinh tế quan trọng của Nhà nước.
Với việc dành lại vùng thông báo bay phía nam Biển Đông (FIR Ho Chi Minh) và ngày càng tăng thêm các đường bay tới các nước, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam đang vươn lên mạnh mẽ, không ngừng nâng cao trình độ, hòa nhập vào cộng đồng Hàng không quốc tế.
Tôi hoan nghênh việc xuất bản cuốn Lịch sử Hàng không dân dụng Việt Nam nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập ngành và tin rằng cuốn sách sẽ cung cấp cho bạn đọc nhiều tư liệu quý.
Hà Nội ngày 1/12/1995 VÕ NGUYÊN GIÁP | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Hàng không dân dụng Việt Nam-Những chặng đường lịch sử« Trả lời #3 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2019, 12:59:02 pm » | LỜI NÓI ĐẦU
Để kịp thời phục vụ bạn đọc, nhân dịp kỷ niệm Tân thứ 40 ngày thành lập Cục Hàng không dân dụng Việt Nam (15-1-1956 - 15-1-1996), Thường vụ Đảng ủy và Ban lãnh đạo Cục Hàng không dân dụng Việt Nam đã chỉ đạo biên soạn cuốn "Hàng không dân dụng Việt Nam - Những chặng đường lịch sử".
Đại tướng Võ NguyÊn Giáp, nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, Bí thư Quân ủy Trung ương, đã nhiều năm theo dõi, chỉ đạo xây dựng ngành Hàng không dân dụng Việt Nam đã viết lời tựa cuốn sách.
Công trình khoa học lịch sử này được chia thành bốn Chương và có các phụ lục. Chương một viết về quá trình hình thành của Hàng không dân dụng từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công đến Kháng chiến chông thực dân Pháp xâm lược thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1945 - 1955), Chương hai viết về ngành Hàng không dân dụng Việt Nam ra đời và phát triển trong thời kỳ miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1956 - 1975). Chương ba viết về ngành Hàng không dân dụng không ngừng mở rộng và phát triển trong điều kiện mới của đất nước (1976 - 1989). Chương bốn viết về Hàng không dân dụng thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên con đường đổi mới và hiện đại hóa (1990 - 1995). Trong quá trình biên soạn, Ban chỉ đạo tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các đồng chí Tư lệnh Quân chủng Không quân, các đồng chí đã từng chỉ huy lãnh đạo Quân chủng Phòng không - Không quân còn đang công tác hoặc đã nghỉ hưu. Đã tổ chức họp lấy ý kiến của tập thể, hoặc gửi tài liệu đến tận tay các đồng chí lãnh đạo Tổng cục trước đây và nhiều cán bộ cao cấp đã cống hiến lâu năm trong ngành để lấy ý kiến. Ngoài ra, còn được sự đóng góp quý báu của một số cán bộ khoa học lịch sử, nhà văn, nhà báo, viện nghiên cứu... và nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên trong ngành đang còn công tác hoặc đã nghỉ hưu.
Nội dung cuốn sách phản ánh khá sinh động quá trình hình thành, phát triển của Không quân vận tải - Hàng không dân dụng nói chung và Hàng không dân dụng nói riêng, từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ thô sơ đến hiện đại trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trên con đường đổi mới và hiện đại hóa. Cuốn sách cũng nêu lên được sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ dân dụng và nhiệm vụ quân sự. Truyền thống lịch sử của Hàng không dân dụng có truyền thống lịch sử của Không quân nhân dân hoặc ngược lại.
Cuốn sách cũng ghi lại đường lối, quan điểm xây dựng và sử dụng ngành Hàng không dân dụng của Đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Quốc phòng qua từng thời kỳ cách mạng; nêu rõ sự chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và lãnh đạo tổ chức thực hiện, vượt qua muôn vàn khó khăn để xây dựng một ngành kỹ thuật hiện đại đối với một đất nước còn lạc hậu và nghèo.
Cuốn sách được biên soạn theo trình tự thời gian tương đối hợp lý, phân tích khá rõ nét những sự kiện chính qua các thời kỳ tham gia chiến đấu, phục vụ nhiệm vụ quân sự và nhiệm vụ chuyên cơ, tham gia làm nhiệm vụ quốc tế, và thời kỳ đổi mới của đất nước, thời kỳ thực sự hạch toán kinh tế, hòa nhập với cơ chế thị trường... Trong cuốn sách, đã chú trọng đi từ sự kiện lịch sử có gắn với nhân vật lịch sử.
Trải qua 40 năm xây dựng và trưởng thành, từ Đoàn bay 919 đến các xưởng sửa chữa máy bay, các sân bay, các đài trạm, các tổ chỉ huy, điều phái... đã ghi lại biết bao sự tích đáng tự hào. Nhiều đồng chí, đồng đội chúng ta đã không quản khó khăn, gian khổ, hy sinh, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ quốc phòng và kinh tế. Xương máu của các anh hùng, liệt sĩ tô thắm truyền thống của ngành để lại cho thế hệ hiện tại và con cháu mai sau.
Nêu cao truyền thống trung thành vô hạn, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể trong chiến đấu trước đây, ngày nay càng có ý nghĩa và giá trị trong làm kinh tế, cổ vũ nhiệt tình và nâng cao trách nhiệm của mọi người trong sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành Hàng không dân dụng vững bước trên con đường đổi mới và hiện đại hóa.
Cuốn sách được biên soạn công phu, nhưng với một công trình khoa học lịch sử, khi tiến hành cũng gặp rất nhiều khó khăn và phức tạp. Đặc biệt, do chiến tranh và do cơ cấu, tổ chức của ngành luôn thay đổi, nên công tác lưu trữ của ngành không đầy đủ, các tài liệu sưu tầm đa số dựa vào trí nhớ của nhiều người cung cấp. Vì vậy, cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi mong nhận được sự quan tâm góp ý của các đồng chí và bạn đọc để bổ sung, chỉnh lý trong lần xuất bản sau.
Nhân dịp cuốn sách "Hàng không dân dụng Việt Nam - Những chặng đường lịch sử" ra mắt bạn đọc, Thường vụ Đảng ủy và Ban lãnh đạo Cục Hàng không dân dụng Việt Nam xin chân thành cảm ơn tất cả các đồng chí, các cơ quan, đơn vị và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã góp tâm huyết và công sức quý báu vào sự ra đời của công trình đầy ý nghĩa này.
Hà Nội, ngày 16 tháng 11 năm 1995 THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY VÀ BAN LÃNH ĐẠO CỤC HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG VỆT NAM | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Hàng không dân dụng Việt Nam - Những chặng đường lịch sử« Trả lời #4 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2019, 08:53:13 pm » | CHƯƠNG I NHỮNG TỔ CHỨC TIỀN THÂN CỦA HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG VIỆT NAM
Nước Việt Nam mang dáng hình chữ "S", trải dài trên 10 vĩ độ, miền Trung hẹp giống như chiếc đòn gánh gắn liền hai đầu Bắc - Nam đất nước.
Nhìn bao quát, Việt Nam có hệ thống núi, trên đó hình thành những vết nứt gãy khổng lồ mà dấu tích còn lại là những dòng sông lớn chạy dọc tneo hướng Bắc - Nam, hoặc Tây Bắc - Đông Nam rồi đổ ra biến Đông. Quan sát trên bản đồ ta thấy núi non chiếm phần lớn diện tích đất đai miền Bắc và miền Trung. Vùng núi ở phía Tây Bắc Bộ có những đỉnh rất cao, cao nhất là đỉnh Fanxipăng (3143m). Dải Trường Sơn chạy dọc theo hướng từ Bắc xuống Nam, trải dài trên 1400km, có nhiều đỉnh cao từ 1000m đến 2700m.
Vùng cao nguyên tập trung ở các tỉnh Tây Nguyên như Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Đó là những vùng tương đối bằng phẳng, có nhiều bãi cỏ rộng. Với lượng mưa lớn (trung bình 1500mm trong năm, ở miền núi lên tới 2000 - 3000mm/năm), hệ thống sông ngòi chằng chịt. Nhìn chung sông ngắn, liền biển, tạo thành một hệ thống sông nước hài hòa, thống nhất. Việt Nam có bờ biển dài (trên 3000km), với nhiều cửa sông lớn và vô số cửa lạch nhỏ. Biển Việt Nam có nhiều vịnh kín đáo, đẹp.
Vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng, phần lớn ngập nước trong mùa mưa, tiêu biểu nhất là đồng bằng sông Hòng và đồng bằng sông Cửu Long.
Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng và ẩm, hình thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường xảy ra từ khoảng tháng năm đến tháng mười một. Cường độ và thời gian của mùa mưa trên ba miền (Bắc, Trung, Nam) có khác nhau. Đặc trưng thời tiết của mùa mưa là nắng, nóng, trời thường có nhiều giông (CB) rất nguy hiểm cho máy bay đang bay. Vào mùa mưa có thể có từ mười đến mười hai cơn bão nhiệt đới, thường xuất hiện ở biển Đông rồi di chuyển theo hướng Tây - Tây Bắc. Chịu ảnh hưởng của bão lớn nhất là miền Bắc và miền Trung. Bão thường gây ra mưa to đến rất to phá hoại mùa màng, giao thông và ảnh hưởng đến hoạt động hàng không. Mùa khô thường kéo dài từ khoảng tháng mười một đến tháng tư năm sau. Đặc trưng thời tiết của mùa khô là trời lạnh, không khí khô, nhiều mây tầng ổn định. Đặc biệt, ở miền Bắc từ khoảng tháng giêng đến tháng tư không khí ẩm, có mưa phùn, mây thấp, tầm nhìn xa hạn chế nhiều đến các phương tiện giao thông, kể cả máy bay cất, hạ cánh.
Việt Nam nằm ở vị trí địa lý quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, có đường hàng không quốc tế xuyên Đông - Tây, Bắc - Nam, vì vậy rất thuận lợi cho việc phát triển vận tải và dịch vụ hàng không dân dụng.
Việt Nam có nhiều sản vật quý hiếm, đặc biệt là thực phẩm tươi sống - những mặt hàng có giá trị kinh tế cao trên thị trường. Trong các loại hình và phương tiện vận tải thì vận tải hàng không có nhiều ưu điểm để vận chuyển mặt hàng xuất khẩu này.
Người Việt Nam đã có truyền thống giao thông sông biển, rất giỏi đóng thuyền và dùng thuyền. Nhưng trong tiến trình lịch sử của mình, người Việt Nam không dừng lại ở đó mà vẫn nuôi khát vọng bay được lên trời cao như những cánh diều giữa trời xanh hay hình ảnh đàn chim Lạc trên trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ...
Tổ tiên người Việt Nam không chỉ dừng lại ở những ước mơ, mà đã thể hiện ước mơ đó trong việc sáng tạo ra những vật bay được. Một trong những vật đó là chiếc diều1 (Hãng Hàng không Malaysia Airlines System (MAS) thành lập từ năm 1947 đã lấy hình ảnh chiếc diều cổ truyền làm biểu tượng của mình). Chỉ bằng những vật liệu rất dễ kiếm, quanh mình: những thanh tre vót khéo, những mảnh giấy, những sợi giây..., người Việt Nam đã làm ra được chiếc diều với đủ loại, bay lượn trên bầu trời. Có cái còn cõng trên lưng cả một bè sáo trúc vi vút làm xao động cả bầu trời làng quê mỗi độ hè về. Thả diều từ lâu đời đã là một trò chơi của nhân dân nhiều vùng quê. Cánh diều và tiếng sáo diều đã trở thành hành trang vào đời của biết bao thế hệ người Việt Nam.
Người Việt Nam có tính cần cù, sáng tạo, lại khéo tay, nhận biết nhanh, dũng cảm... Từ xưa, ước mơ của người Việt Nam bay bổng tơi tận chín tầng mây, nhưng chinh phục nó thì... vẫn chỉ dừng lại ở những cánh diều. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Hàng không dân dụng Việt Nam - Những chặng đường lịch sử« Trả lời #5 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2019, 08:55:22 pm » | I. TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNG KHÔNG Ở VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC2 (Xem tài liệu: Quá trình lịch sử của ngành Hàng không Đông Dương, tiếng Pháp, Hà Nội, Nhà in Viễn Đông, 1930)
Kể từ ngày người Pháp thả quả khinh khí cầu đầu tiên lên bầu trời Sài Gòn (1791), vào năm 1884, khi tiến hành cuộc xâm lăng ra phía Bắc, Pháp mới sử dụng một phân đội lái khí cầu do trung úy công binh Ju Chieng chỉ huy lực lượng bộ binh tiến đánh thành Bắc Ninh. Các quan sát viên ngồi trên khinh khí cầu làm nhiệm vụ chỉ điểm hoặc hoa tiêu điều chỉnh việc ngắm bắn của pháo binh. Sau đó, khinh khí cầu lại được người Pháp sử dụng trong trận đánh chiếm thành Hưng Hóa.
Bước sang thế kỷ XX, những chiếc máy bay đầu tiên của Pháp xuất hiện ở Việt Nam là vào ngày 10-12-1910, hồi 10 giờ 30 phút, trên bầu trời Sài Gòn. Mãi đến năm 1913, những cuộc biểu diễn hàng không mới được người Pháp tổ chức ở miền Bắc Việt Nam. Nhưng đó chỉ là tự phát của một vài cá nhân sĩ quan Pháp, với máy bay cánh quạt một tầng cánh. Sau đó, đã có những cánh bay nối liền Sài Gòn với Phnômpênh (Campuchia), Hà Nội - Lạng Sơn với mục đích bay thăm dò địa hình.
Năm 1914, Đỗ Hữu Vị - một người Việt Nam là sĩ quan trong quân đội lê dương của Pháp chuyển sang học lái máy bay và đã phục vụ trong lực lượng không quân Pháp. Trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất, được phong quân hàm đại úy và được tặng Bắc Đẩu bội tinh.
Năm 1917 là năm cắm mốc đầu tiên của Hàng không Pháp ở Đông Dương. Toàn quyền Đông Dương đã cho phép lấy Vị Thủy (thuộc tỉnh Sơn Tây) làm bãi hạ cánh và kho chứa xăng máy bay. Ngày 13-1-1917, sân bay đầu tiên ở Việt Nam được khởi công xây dựng.
Ngày 9-7-1917 lần đầu tiên, những chiếc máy bay từ Pháp được chở trên chiếc tàu biển Menan sang Đông Dương cập bến Hải Phòng.
Ngày 11-7-1917, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thiết lập Sở Hàng không Đông Dương tại Bắc Kỳ (Service de L’aviation) để nghiên cứu các tuyến đường hàng không, thiết lập các sân bay, đường băng, đặt quy chế về việc sử dụng máy bay trong các hoạt động quân sự và dân sự ở Đông Dương.
Ngày 13-7-1917, Phủ Toàn quyền cho thành lập ở miền Bắc một phi đội máy bay có nhiệm vụ như "một phi đội nghiên cứu trực thuộc Phủ Toàn quyền", được trang bị 4 máy bay Voixin cũ kỹ, với những máy nổ 150 mã lực.
Ngày 6-4-1918, Toàn quyền Đông Dương cho thành lập Sở Hàng không dân sự Đông Dương (Servise Civil de L’aviation). Cả Đông Dương lúc này đã có hai phi đội bay. Các phi đội này nhằm phục vụ công cuộc đàn áp và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Cùng ngày, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định cho phép tiến hành xây dựng sân bay Bạch Mai (Hà Nội).
Năm 1918, một người Việt Nam là Cao Đắc Minh, vốn là giáo viên của Trường ngôn ngữ Phương Đông đá tìm mọi cách vận động để lọt khỏi những quy định cấm người Việt Nam làm việc trong ngành hàng không con cưng của Pháp và anh đã trở thành phi công của Sở Hàng không dân sự Đông Dương.
Năm 1919, Sở Hàng không dân sự Đông Dương đổi thành Sở Hàng không Đông Dương (Service L’Aéronautique Indochinois) và được tăng cường thêm lực lượng thủy phi cơ. Các phi đội một và hai trở thành phi đội hỗn hợp thủy bộ. Ở Bắc Kỳ, bộ phận trên bộ đóng ở Hà Nội, bộ phận thủy phi cơ đóng ở Hải Phòng, ở Nam Kỳ, bộ phận trên bộ đóng ở Phú Thọ, bộ phận thủy phi cơ đóng ở Nhà Bè.
Trong thời gian sáu tháng đầu năm 1920, Sở Hàng không Đông Dương thực hiện một số chuyến bay tập và chụp ảnh trên không cho Sở Địa bạ trên các tuyến Hà Nội, Hải Phòng, Phủ Lạng Thương, Vinh, Đồng Hới.
Ngày 20-12-1920, một phi công Pháp đã bay thủy phi cơ từ Hải Phòng lên Hà Nội, hạ cánh xuống Hồ Tây. Ngày 21-12-1920, một đội bay người Pháp đã thực hiện chuyến bay đầu tiên từ Pháp sang Đông Dương.
Đến cuối năm 1920, đã có 34 bãi hạ cánh cấp cứu rải ra khắp chiều dài đất nước. Hàng không Bắc Kỳ đã thực hiện 200 giờ bay, 60 giờ thuyền lướt và chụp 2000 kiểu ảnh.
Đến năm 1923, 60 sân bãi hạ cánh đã ra đời trên toàn cõi Đông Dương. Ngày 19-4-1923, một trung ủy phi công người Pháp của phi đội hai cùng với thợ máy người Việt Nam tên là Bằng đã bay thẳng một mạch từ Sài Gòn ra Hà Nội không nghỉ, mất 8 giờ 30 phút.
Năm 1924, Pháp đã tổ chức một xưởng lắp ráp máy bay ở Bạch Mai (Hà Nội). Ngày 11-4-1924, Pháp đã cho hai máy bay tới sân bay An Khê (Gia Lai) và từ đây đã cất cánh ném 8 quả bom xuống một làng người dân tộc với 80 nếp nhà sàn ở Konchroi, đốt phá gần như bằng địa cả làng này. Đây là lần đầu tiên thực dân Pháp sử dụng máy bay đàn áp nhân dân Việt Nam.
Năm 1924 là năm các hoạt động giao lưu hàng không giữa các nước với Đông Dương diễn ra khá nhộn nhịp. Ngày 24-4-1924, một tổ bay Pháp thực hiện chuyến bay liên lạc lần thứ nhất giữa Pháp và Đông Dương bằng máy bay Bréquet 19, mất 18 ngày. Ngày 12/6, hai phi công người Bồ Đào Nha, dùng máy bay Bréquet 16 BN-2 bay từ Lisbon - thủ đô Bồ Đào Nha qua Ma Cao rồi hạ cánh xuống Hà Nội.
Ngày 29-6-1924, viên phi công Mỹ Mac Larren thực hiện chuyến bay vòng quanh thế giới. Sau khi đến Băng Cốc (Thái Lan) đã bay tới sân bay Vinh (Nghệ An), ngừng lại ít giờ rồi bay tiếp và hạ cánh ở Thượng Lý (Hải Phòng), sau đó bay tiếp đi Hồng Kông.
Pháp và Mỹ còn tổ chức để máy bay của Mỹ bay chặng đường biển cho 3 chiếc thủy phi cơ hạ cánh ở Hải Phòng, Đà Năng - Kratic Sài Gòn và Băng Cốc.
Trong các xưởng kỹ thuật hàng không của Pháp ở Việt Nam thời gian này (1926) biên chế có 16 người Âu có cấp bậc và hơn 100 thợ Việt Nam. Đã chế tạo ra được những cáp thép dùng cho việc thả dù.
Năm 1927, tổ chức Hàng không Đông Dương được tăng cường nhân viên và máy bay. Pháp đã thành lập thêm ở Việt Nam phi đội 3 gồm một phần là máy bay Potez 25-A2 và một phần là máy bay Bréquet 14, đặt ở Bạch Mai. Đồng thời, Pháp xây dựng thêm các sân bay mới ở Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lao Cai, Đà Nẵng.
Ngày 1-10-1928, Pháp thành lập thêm phi đội 4, đã chú ý tới việc đưa máy bay mới, hiện đại hơn tới Việt Nam. Các máy bay kiểu cũ, loại Bréquet 14 đều được sửa lại và thay bằng máy bay mới Potez phù hợp với điều kiện địa lý, có thêm thùng dầu phụ. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Hàng không dân dụng Việt Nam - Những chặng đường lịch sử« Trả lời #6 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2019, 08:56:55 pm » | Bước sang năm 1929, hàng không Pháp ở Bắc Việt Nam đã có một Ban giám đốc ở Hà Nội, ba phi đội (1, 3, 4) ở Bạch Mai.
Ngày 17-3-1929, hai phi đội bay cất cánh từ Bạch Mai, sau hai chặng đỗ ở Thanh Hóa và Huế đã vào tới An Khê; từ đây chúng đã xuất phát đi đàn áp phong trào nổi dậy của nông dân các dân tộc Tây Nguyên.
Ngày 12-5-1929, sau hơn hai năm xây dựng sân bay Đà Nẵng đã khánh thành. Pháp đã sử dụng sự thông minh, khéo léo, dẻo dai và cần cù của thợ người Việt Nam để bố trí làm trong các xưởng sửa chữa và bảo dưỡng máy bay của Pháp. Lịch sử hàng không Đông Dương của Pháp đã phải ghi tên những người thợ máy Việt Nam được cấp bằng hảo hạng như: Đào Văn Quế (được khen Kim Tiền hạng 3 năm 1925), Lê Quang Lương (được thưởng Huân chương Vạn Tượng năm 1927 và Mề đay danh dự năm 1928); các thợ máy Lê Văn Trọng, Nguyễn Hữu Pháp, Nguyễn Đình Ngô, Lê Văn Bái, Lê Hứu Triệu được thưởng Huân chương Vạn Tượng hạng Ba. Thợ máy Lê Quang Lương năm 1929 được thưởng tiếp Long bội tinh hạng Ba.
Ngày 3-8-1929, Pháp đã tổ chức bay thí nghiệm thành công đường bay Hà Nội - Nha Trang với chặng nghỉ Đà Nẵng.
Đường Hàng không Hà Nội - Sài Gòn, các phi công đã chọn bay theo hai cách:
- Men theo sông Mêkông.
- Men theo bờ biển, vì dọc theo đó đã có những sân bay Hà Nội - Thanh Hóa - Vinh - Huế - Đà Nẩng - Nha Trang - Phan Rang - Phan Thiết - Sài Gòn. |
|
|