Hang Na Long, một ngày bi tráng
Ai đã từng thăm viếng Nghĩa trang liệt sĩ (NTLS) Quốc tế Việt-Lào ở huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, khi xem danh sách hoặc nhìn trên bia đá của hàng nghìn phần mộ sẽ thấy có hơn 100 người (có một nữ) đều hy sinh một ngày, ở cùng đơn vị, tại một địa điểm...
Ai đã từng thăm viếng Nghĩa trang liệt sĩ (NTLS) Quốc tế Việt-Lào ở huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, khi xem danh sách hoặc nhìn trên bia đá của hàng nghìn phần mộ sẽ thấy có hơn 100 người (có một nữ) đều hy sinh một ngày, ở cùng đơn vị, tại một địa điểm. Đó là ngày 24-11-1968, ở Trung đoàn Công binh 217, tại hang Na Long, huyện Mường Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng, Lào. Đến nay vừa tròn 45 năm ngày hy sinh, cũng là 45 lần cúng giỗ tập thể các đồng đội.
Thực hiện mệnh lệnh của cấp trên, Trung đoàn Công binh 217 thành lập hai Sở chỉ huy, đặt tại hai địa điểm cách xa nhau hàng trăm ki-lô-mét. Sở chỉ huy khu A tại Sầm Nưa, Sở chỉ huy khu B tại Mường Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng. Nơi ở của khu B trong hang đá bản Na Long, cách ngã ba Bạn Ban gần 5km về hướng tây-bắc. Đây là trung tâm chỉ huy toàn tuyến đường 7B qua Khang Khay vào Xiêng Khoảng, theo đường 4A, 4B xuống Tha Thơm, Tha Viêng gặp Quốc lộ 13 tại thị xã Pắc Xan. Núi Na Long có nhiều hang đá rộng lớn, dùng cất giấu kho tàng, trú quân tương đối an toàn. Tuy nhiên cũng tiềm ẩn không ít bất lợi, đó là xa các tuyến đường, hang đá chỉ có một cửa ra vào...
|
Tác giả bên mộ đồng đội-liệt sĩ Trịnh Kim Trọng, hy sinh ngày 24-11-1968, tại Na Long, huyện Mường Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng, Lào. |
Sở chỉ huy khu B ở dãy núi đá có 3 tầng hang. Tầng hang thấp gần suối nước bố trí cho bộ phận hậu cần, nuôi quân; tầng hang thứ hai rộng rãi, có thể chứa được cả trăm xe ô tô, phía trước có bãi bằng... Bố trí nơi ở cho các phân đội, số anh em từ các đơn vị về chờ nhận công tác hoặc nhận hàng hóa, khám chữa bệnh, điều trị vết thương... Cùng ở trong hang này còn có hơn 200 hộ dân với gần 400 người của bản Na Long và Na Mơn. Cách sắp xếp là, bộ đội ở phía trong hang để giữ bí mật lực lượng và cất giấu kho tàng; các hộ dân làm nhà tạm ở hai bên ra vào cửa hang.
Trung tuần tháng 11-1968, Thủ trưởng Trung đoàn từ khu A (Sầm Nưa) nhận lệnh của cấp trên và tin báo từ Bộ chỉ huy Mặt trận Cánh Đồng Chum Xiêng Khoảng cho biết: Không quân Mỹ đã “đánh hơi” được lực lượng, phương tiện chiến tranh của ta đang tập kết rất lớn tại khu vực Mường Khăm-Bạn Ban. Mục tiêu tập trung đánh phá của địch nhằm vào nơi trú quân, kho tàng của ta, trong đó có lực lượng của bộ đội công binh (hang Na Long). Thủ trưởng Trung đoàn đã chỉ thị, giao nhiệm vụ cho Sở chỉ huy khu B phải di chuyển ngay đơn vị đến nơi ở mới, bảo đảm an toàn. Thời điểm này đang giữa mùa khô của Lào rất thuận lợi cho cơ động, di chuyển. Tuy nhiên, cán bộ chỉ huy khu B có tư tưởng chủ quan, ý thức chấp hành mệnh lệnh không nghiêm, chậm trễ di chuyển...
Sáng 24-11-1968 đã trở thành ngày định mệnh. Từ 8 giờ, khi núi rừng Lào còn chìm ngập trong biển sương đặc quánh, từng đàn “quạ sắt” Mỹ đủ loại AD6, L19, F105... kéo đến thay nhau bắn tên lửa, rốc-két, ném bom cháy, bom sát thương xuống khu vực Mường Khăm, nhằm mục tiêu cố định là hang Na Long. Đợt đánh phá với mức độ cao, cường độ mạnh, có tính hủy diệt lớn... ập đến quá nhanh, dữ dội làm cho mọi người bị động, không kịp phản ứng, giải nguy. Khoảng 10 giờ, trời quang, mục tiêu cửa hang lộ rõ, một loạt tên lửa bắn trúng dãy nhà hai bên, lửa cháy ngùn ngụt, thiêu rụi hết dãy nhà ngoài đến dãy nhà trong rồi lan nhanh vào kho tàng, nơi ở của bộ đội phía trong hang. Còn ở bên ngoài bãi bằng, cửa hang máy bay địch gầm rú điên loạn, ném bom sát thương bừa bãi. Ở trong hang sâu, do sức nóng quá lớn, không khác một lò gạch khổng lồ. Tất cả nhà dân bị cháy, sập đổ chắn lối ra vào... càng đẩy người dân và bộ đội chạy lùi vào hang sâu tối tăm, tránh nóng, tìm lối thoát... nhưng tất cả đều vô vọng. Sau nhiều giờ bị ngạt thở, kiệt sức, tất cả đều lịm dần. Trong khoảnh khắc mong manh giữa sống và chết, có hai người là Phó ban hậu cần Nguyễn Vinh và Tiểu đội trưởng Thông tin Cao Sỹ Mùi đã lao qua lửa cháy, giẫm đạp lên than đỏ hừng hực chạy ra ngoài cửa hang thoát nạn, nhưng phải mang những vết bỏng nặng toàn thân.
Trong số hơn 100 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, họ đều ở tuổi 19-20, nhiều người là Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ quyết thắng được tập trung về chuẩn bị dự Đại hội Thi đua Quyết thắng cuối năm; có hai bác sĩ là Đại úy Nguyễn Ngọc Sỹ-Phó ban Quân y Trung đoàn, Thiếu úy Vũ Thủy (quê ở phố Khâm Thiên, Hà Nội); có một nữ y tá là Trung sĩ Đoàn Thị Hồng, quê xã Quảng Định, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Hồng đang cầm trong tay giấy báo về học Trường Trung cấp Quân y tại Sơn Tây, chờ có chuyến xe về nước gần nhất để ghé thăm quê, thăm mẹ sau 3 năm xa nhà và đón người bạn gái là y tá Đỗ Thị Uyên (là vợ tôi hiện nay) ở khu A cũng có giấy báo về Trường Trung cấp Quân y vào đầu tháng 12-1968.
Sau tổn thất nặng nề, khủng khiếp tại Na Long ngày 24-11-1968, thủ trưởng Trung đoàn huy động lực lượng mạnh đến giải quyết hậu quả. Với mệnh lệnh bằng mọi giá phải tìm cho hết, nhận dạng thật chính xác từng cán bộ, chiến sĩ, đưa về an táng tại Nghĩa trang Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, trên biên giới Việt-Lào; sau giải phóng, chuyển về NTLS Quốc tế Việt-Lào hiện nay. Toàn bộ thi thể của người dân Lào được xử lý cẩn thận, chôn chung tại bãi bằng trước cửa hang.
Kết thúc bài viết này, tôi xin phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đông đảo đồng đội Quân tình nguyện và thân nhân các liệt sĩ là mong muốn Đảng, Nhà nước Việt Nam và Lào cần quan tâm đặc biệt, có chủ trương xây dựng tại trung tâm tỉnh Hủa Phăn và Xiêng Khoảng các nhà bia ghi công về những cống hiến, hy sinh to lớn của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Công binh 217, đặc biệt là trận đánh ở hang Na Long đối với sự nghiệp cách mạng Lào, nhằm tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ hai nước và vun đắp tình hữu nghị, đoàn kết đặc biệt thủy chung, trong sáng của hai dân tộc Việt Nam-Lào mãi xanh tươi, đời đời bền vững.



