Hành quân lên biên giới phía Bắc
Đầu năm 2004, giữa những ngày mưa xuân giăng mờ khắp đất trời phương Bắc, tôi khoác ba lô lên biên giới Lào Cai, thực tập cuối khoá. Chuyến tàu chợ chuyển bánh từ ga Hàng Cỏ lúc chín giờ tối, năm giờ sáng hôm sau mới đến thị xã Lào Cai. Lần đầu tiên trong đời được đặt chân lên miền biên viễn xa xôi, trong sương mờ lãng đãng, thị xã vùng biên ồn ào tấp nập, khác xa phỏng đoán của tôi trước đó. Từ ga Phố Mới qua bưu điện trung tâm lên khu vực cửa khẩu rồi vòng qua chợ Cốc Lếu, chỗ nào cũng thấy thấp thoáng bóng người, những kiện hàng hóa đủ loại, tiếng xe máy inh ỏi và xe lôi cót két. Chưa rõ mặt người nhưng những hàng quán ven đường mùi cháo lòng, mùi phở gà, miến lươn… quyện mùi khói bếp bốc lên nghi ngút thơm lừng. Tôi khoác ba lô đi trong đường phố mà lòng đầy náo nức. Biết bao nhiêu những niềm vui và khó khăn đời lính đang chờ tôi phía trước...
Sau khi quen thuộc địa bàn, tôi được giao nhiệm vụ đi một mình dọc theo đường tuần tra. Đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc thuộc địa phận thị xã chạy trên hai con sông, sông Hồng và sông Nậm Thi. Nếu như địa bàn Đồn Biên phòng A Mú Sung, thuộc huyện Bát Xát cách đó gần sáu mươi cây số là điểm đầu tiên “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt” thì tại nơi giao nhau với sông Nậm Thi này, sông Hồng chảy thẳng vào nội địa nước ta.
Đúng như tên gọi Hồng Hà hàng ngàn năm nay, từ nơi thượng nguồn, nước đã ngầu ngầu sắc đỏ. Xuất phát từ sự mãnh liệt của nó nên từ cuối những năm chín mươi, cả ta và phía Trung Quốc đã bắt đầu tính toán cho xây bờ kè kiên cố. Mỗi bên đổ bê tông cốt thép, rộng cả chục mét, để nhiều năm sau dù nước lũ cũng không thể nào xói lở. Tại ngã ba sông này, đường biên giới không còn đi theo sông Hồng, mà tiếp tục chạy sang hướng Đông Bắc, dọc theo sông biên giới Nậm Thi, về phía Bản Phiệt.
Trong vai một người từ Hà Nội mới lên, lang thang kiếm mối làm ăn, tôi có cơ hội hiểu sâu hơn về những con người sinh sống dọc theo đường biên giới. Đầu tiên, tôi được những người lái đò trên sông Nậm Thi chèo kéo xuất cảnh “chui” sang Trung Quốc với giá hai chục ngàn đồng cho một lần trót lọt. Họ giới thiệu rất nhiều điều thú vị phía bên kia. Ở đó có cơ hội tìm kiếm “việc nhẹ lương cao”; có chợ biên giới bán đủ các mặt hàng thượng vàng hạ cám, từ vải vóc, đèn pin, quần áo, đồ gia dụng giá rẻ đến những món đồ chơi bạo lực như súng bắn điện, dao găm, mã tấu, côn nhị khúc… Đặc biệt nếu anh bạn nào có nhu cầu “tươi mát”, họ sẽ dẫn thẳng lên tầng 3 của khu chợ ba tầng, nằm trong khu vực thị trấn Hà Khẩu.
Xin nói thêm về dòng Nậm Thi. Đây là một con sông nhỏ, đôi bờ có chỗ chưa đầy hai chục mét. Vào mùa xuân, nước cạn đến tận đáy khiến những tảng đá xám dưới lòng sông trồi lên hẳn. Trải qua không biết bao nhiêu năm được dòng nước bào mòn, những hòn đá lớn nhỏ trở nên mịn màng, trơn bóng. Hai bên bờ sông hay giữa khe đá mọc lên những cây sung sai trĩu quả. Những người có kinh nghiệm biết, chỗ nước sâu, nhiều gầm đá, rêu xanh, quả sung chín rụng, sẽ có rất nhiều ba ba suối trú ngụ, kiếm ăn. Anh Bùi Văn Thi nhà ở gần chốt Phố Tèo đặt bẫy bằng mồi cá thối và thuốc Tàu có tuần được ba bốn con. Con to nhất nặng đến hai cân chín. Ba ba suối tuy không béo vàng như dưới đồng bằng nhưng thịt chắc và dai nên bán được giá.
Ở những chỗ hẹp nhất, nước sông chỉ cao ngang đầu gối người lớn. Người ta có thể dễ dàng lội qua bên kia. Cũng ở những nơi đó, dân cửu vạn tập kết sẵn hàng lậu trong những căn nhà dựng tạm sát bờ sông, chỉ chờ đêm tối hay khi lực lượng chức năng sơ hở là họ đồng loạt ào qua. Tôi lang thang hơn mười ngày ở khu vực Đền Thượng, Phố Tèo, Bản Phiệt thì tìm ra quy luật hoạt động của nhiều nhóm đối tượng trên địa bàn. Thông qua các phương án đánh bắt, tham mưu đề xuất với ban chỉ huy đồn, nhiều vụ việc đã được phát hiện, xử lí kịp thời.
Nhưng bài toán được đặt ra là, liệu bộ đội biên phòng cùng các lực lượng chức năng khác có đủ quân số và thời gian để ngăn chặn triệt để hoạt động vi phạm của những người dân nghèo sinh sống dọc bờ sông? Tôi đem những băn khoăn, trăn trở đó trình bày với đồng chí Đồn Phó chính trị. Anh nhìn tôi trìu mến rồi nhẹ nhàng phân tích: “Đồng chí mới về đơn vị nên chưa biết những hoạt động giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn. Mọi việc vẫn đang tiến hành đồng bộ, có như vậy sự nghiệp gìn giữ biên thùy của những người lính biên phòng chúng ta mới thực sự bền vững”.
Sau đó ít ngày, tôi được tham gia trong một đợt hành quân giúp dân trồng và chăm sóc cây dứa ở khu vực xã Bản Phiệt. Đó là những ngày đầu người dân nơi đây biết đến cây dứa trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Không mấy ai ngờ, chỉ ít năm sau, dứa đã nhanh chóng thành cây trồng chủ đạo mang lại thu nhập cao cho đồng bào. Còn bây giờ, dứa thơm Bản Phiệt đã là thương hiệu có tiếng đất Lào Cai.
Có những buổi chiều, chúng tôi hành quân dọc theo bờ sông Nậm Thi, đi qua dưới chân cầu Hồ Kiều đến điểm ngã ba sông thì quay lại. Trái hẳn với vẻ ồn ào, sôi động ở bên trên, dưới chân cầu Cốc Lếu, trên những đám cỏ khô ấm áp là nơi cư ngụ của gần chục em bé đánh giày. Gia tài của mỗi em là một manh chiếu rách và một hai bộ quần áo cũ mèm. Lần đầu gặp chúng tôi, các em lo lắng như sợ bị truy bắt. Nhưng rồi sự thân thiện đã nhanh nhanh chóng được thiết lập. Tôi hỏi một em có vẻ chững chạc hơn cả:
- Quê em ở đâu?
- Ở huyện Bảo Thắng.
- Em đi làm thế này bố mẹ có biết không?
- Biết chứ, tháng nào cũng gửi tiền về mà.
- Sao em không thuê chỗ nào mà ở trọ?
- Ở thế này là tốt rồi, còn để dành tiền cho các em đi học chứ.
Suốt bao nhiêu năm rồi nhưng hình ảnh những em nhỏ kiếm sống gần khu vực cửa khẩu vẫn in đậm trong tâm trí tôi như một phần của gia tài người lính.



