Hành trình di dân và truyền đạo của Tổ sư Thiện Châu trên đất phương Nam
Hành trình di dân và truyền đạo của Tổ sư Thiện Châu trên đất phương Nam
Thiền sư Tánh Nhẫn - Thiện Châu, người khai sáng chùa Bửu Lâm có thế danh là Nguyễn Văn Nhẫn (tự Lê Kiên Nhẫn), người Trung Bộ (chưa rõ ở tỉnh nào), sanh năm Nhâm Tuất (1622) trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ mất sớm, sống nương tựa với người anh là Nguyễn Văn Lăng. Khi ông xuất gia đi tu thì người anh vào Nam lập nghiệp.
Ông là pháp tôn của thiền sư Minh Châu - Hương Hải, là huynh đệ với thiền sư Tánh Đề - Đạo Nguyên, trụ trì chùa Thập Tháp Di Đà (Bình Định), Tánh Ban - Giám Huyền trụ trì chùa Linh Phong (Bình Định)... thuộc phái Trúc Lâm, theo bài kệ truyền pháp của thiền sư Trí Bảng - Đột Không.
Khoảng năm 1680, thiền sư Minh Châu - Hương Hải, phái Trúc Lâm, bị chúa Hiền Nguyễn Phước Tần (1648-1687) bắt giam vì bị nghi ngờ có quan hệ với chúa Trịnh. Qua điều tra, xét thấy chưa đủ chứng cớ, nên được tha. Đến năm 1682, thiền sư Minh Châu - Hương Hải cùng khoảng 50 đệ tử Trúc Lâm trốn ra Đàng Ngòai. Để tránh sự truy bức của chúa Hiền, các tăng sĩ phái Trúc Lâm còn lại ở Đàng Trong phải tìm cách mai danh ẩn tích hoặc trốn vào phía Nam. Trong khi Tánh Đề - Đạo Nguyên vào trụ trì chùa Thập Tháp (Bình Định) thuộc phái Lâm Tế để ẩn thân, thì Tổ Tánh Nhẫn - Thiện Châu lại trốn vào phía Nam cùng với hai đệ tử là Thiện Ý và Thiện Tín. Đến Ninh Thuận, thầy trò sư Tánh Nhẫn trú ngụ, tu hành trong một hang đá hoang vắng trên núi Chà Bang (nay thuộc xã Phước Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận). Một thời gian sau, nơi đây trở thành chùa Trà Cang.
Đến năm 1693, có cuộc nổi loạn của A Ban ở trấn Thuận Thành, nơi ông đang ẩn tu (chùa Trà Cang chỉ cách Phan Rang trên 10km). Để tránh bị nghi ngờ, tổ Thiện Châu giao chùa cho đệ tử Thiện Tín ở lại trụ trì, còn ông cùng đệ tử Thiện Ý tiếp tục lên đường vào Nam tìm đến nơi cư ngụ của người anh. Ông Nguyễn Văn Lăng, anh ruột của ông vào Nam từ trước, phá rừng khai hoang được một vạt đất phía bên kia sông Tiền.
Lúc bấy giờ vùng đất giữa sông Tiền và sông Hậu có tên gọi là Tầm Phong Long, đã có nhiều người Việt đến khai hoang lập nghiệp sống chung đụng với người bản địa Khmer và người Hoa nhập cư sau đó. Cuộc đất của ông Nguyễn Văn Lăng thuộc thôn Tân Đông, gần rạch Tân Đông. Rạch nầy có tục danh là Cái Bể Cạn. Trong dân gian vẫn thường gọi là Cái Bè Cạn.
Sư Thiện Châu dừng chân ở Tân Đông, dựng một cái am cạnh lạch nước nhỏ trên đất của anh mình để tu hành (nay thuộc ấp Đông Quới, xã Tân Khánh Đông), lạch nước nầy nay vẫn còn được gọi là Mương Chùa. Sau một thời gian, ông xuống bè phát nguyện: để bè trôi tự nhiên, nếu bè tắp vào nơi nào đó mà xô bè ra ba lần mà bè vẫn tắp vào chỗ cũ, thì sẽ dừng chân tu hành ở đó. Dân gian kể rằng ông thả bè trong một đêm tháng sáu tại rạch Vinh, có gió Nam thổi mạnh, bè trôi qua bờ phía bắc vào ngọn rạch Cái Bảy, rồi vào rạch Cái Bèo. Cuối cùng ông dừng tích trượng ở bìa rừng mây cạnh một con rạch nhỏ quanh co, gần rạch Cái Bèo, cách xa xóm Thới Bình (sau nầy trở thành thôn Bình Hàng Trung) dựng am tre lá để tu hành, về sau thành chùa Bửu Lâm lưu truyền đến ngày nay.
Tổ thường dùng thuốc kết hợp với phù chú để trị bịnh cứu dân.


