Hành trình gian khổ đi học – bước trưởng thành của người lính
Đoạn văn kể về hành trình vượt rừng đầy gian nan của đội Cảm tử Khánh Hòa lên đường đi học theo lệnh cấp trên. Dù thiếu thốn lương thực, đối mặt hiểm nguy như ngộ độc và suy kiệt, các chiến sĩ vẫn kiên cường vượt khó, sáng tạo tìm cách sinh tồn và hoàn thành nhiệm vụ. Quá trình học tập sau đó giúp họ nâng cao trình độ chiến đấu, đặc biệt là nghệ thuật tác chiến đặc công, đánh dấu bước trưởng thành quan trọng cả về bản lĩnh, ý chí và năng lực quân sự.
Tháng 4 năm 1952, đội Danh dự nay đổi tên là Cảm tử chúng tôi đang hoạt động ở vùng hậu địch Vạn Ninh thì được lệnh gọi về Đá Bàn nhận nhiệm vụ mới.
Về đến nơi chưa kịp báo cáo, anh Nguyễn Đường, tỉnh đội trưởng (nay là Thiếu tướng, ủy viên ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương) đã chủ động đến gặp chúng tôi. Ngay từ phút đầu anh vồn vã tay bắt mặt mừng xem chúng tôi như những người thân đi xa lâu ngày mới gặp. Số là anh Đường quê ở Quảng Ngãi, sau khi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở quê nhà trong cao trào Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, anh được giao nhiệm vụ chỉ huy đội Cảm tử 2 của tỉnh Quảng Ngãi vào chi viện cho mặt trận Khánh Hòa. Trên đường hành quân Nam tiến, đội Cảm tử 2 đã tham gia đánh Nhật ở Quy Nhơn, Tuy Hòa; tới Khánh Hòa, tham gia đánh Nhật ở đèo Phượng Hoàng, sau đó tăng cường cho mặt trận Ninh Hòa đang bị quân Pháp uy hiếp từ nhiều phía. Ở đây đội Cảm tử 2 đã đánh địch trên vùng Bắc Khánh, góp phần kìm chế không cho địch đánh chiếm đèo Cả. Phương thức hoạt động của Đội Cảm tử hồi đó thường chủ yếu dùng mưu để áp sát địch diệt địch bằng lựu đạn và vũ khí tự tạo (bộc phá). Có lẽ vì thế mà ngay từ đầu anh đã rất cảm tình với đội Danh dự của tỉnh Khánh Hòa.
Thời gian giữ chức chỉ huy trưởng tỉnh đội, anh đã cùng tập thể lãnh đạo tỉnh quan tâm đến việc chỉ đạo xây dựng và tác chiến của Đội Cảm tử chúng tôi. Ngoài mối quan hệ trên dưới, tình cảm giữa chúng tôi và anh có cái gì gắn bó của tình “đồng nghiệp”
Gặp lần này, tôi thấy anh phấn chấn khác thường. Không cần phải vào lán, anh đứng ngoài trời nói luôn:
- Tư Cụ à! - Anh vẫn nắm chặt tay tôi, hai mắt nhìn thẳng vào hai mắt tôi vừa có cái gì rất tin ở nơi tôi, vừa lại như đắn đo, thăm dò, rồi anh thấp giọng - ngoài Khu có điện vào, báo cho Khánh Hòa ta được cử người đi học.
- Học gì vậy anh? - Tôi hỏi lại.
Anh không trả lời ngay, mà đưa tay lấy từ túi áo ngực ra bức điện của Bộ tư lệnh Liên khu V gửi vào, rồi đọc nhanh, nhấn mạnh đoạn cuối: “Cần chọn những người chiến đấu gan dạ, sức khỏe tốt, thành phần cơ bản, lập trường vững”
Anh gấp cẩn thận bức điện bỏ vào túi, rồi nói với giọng thân tình:
- Tôi đã thống nhất với anh Bảy Hữu là cử Tư Cụ đi học lóp này - ngừng một lát rồi anh lại tiếp - Tư Cụ sẽ chọn thêm hai người nữa theo tiêu chuẩn như Khu đã điện, do Tư Cụ phụ trách dẫn ra ngoài đó học.
Tôi xúc động không nói được câu nào. Trên tin cậy, giao cho tôi tuyển chọn người và chỉ huy đoàn học sinh Khánh Hòa lên đường đi học mãi tận Liên khu. Tuy chưa biết nội dung cụ thể nhưng ngay lúc ấy tôi đã thấy đây là dịp trên chắp cánh cho minh bay cao, bay xa.
Đoàn học sinh tỉnh Khánh Hòa gồm mười hai anh em1, được tuyển chọn lên đường đi học với tinh thần phấn khởi, tự hào. Một số anh em, gia đình tuy ở gần cũng không tranh thủ về thăm, mà ở lại giữ sức khỏe, tập trung chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho một lần đi xa đầu tiên trong cuộc đời chiến đấu. Tất cả đều hăm hở chờ ngày lên đường. Mặc dầu không được trên cấp tiền, cấp gạo, nhưng chẳng ai trong chúng tôi băn khoăn để ý tới.
Các anh lãnh đạo rất hiểu cái khó khăn đó, nhưng vì hoàn cảnh quá gấp nên không có cách nào khắc phục được. Hôm lên đường, đồng chí tính đội trưởng đến bắt tay từng người, cảm động nói:
- Đáng ra phải có ít gạo tiền cho anh em đi đường nhưng gạo thì hết, tiền vận chuyển từ ngoài Bắc đưa vào đang mắc kẹt ở ngoài Khu, vì địch đang có đợt đánh phá hành lang của ra rất dữ!
Phút im lặng trôi nhanh, anh xúc động đưa tay vẫy chào:
- Các anh em phải tự lo liệu lấy để đi đến nơi...
Là người trong cuộc, chúng tôi thông cảm rất nhanh với khó khăn chung và khó khăn của Khánh Hòa lúc ấy là như thế nào rồi. Địch mở rộng càn quét đánh phá ngăn chặn, phong tỏa vùng giáp ranh, toàn bộ lực lượng ta phải rút sâu về căn cứ, không liên hệ được với đồng bằng nên việc tiếp tế lương thực, thuốc men tạm thời gián đoạn, đời sống bộ đội, cán bộ gặp khó khăn. Lương thực dự trữ có hạn đã hết. Tất cả phải đào củ rừng, rau rừng sống cầm hơi.
Không tiền, không gạo, nhưng chúng tôi vẫn thanh thản lên đường. Vừa đi vừa đào củ mài và kiếm nấm rừng để sống. Cực nhọc mà lạc quan, tự động viên nhau để tới đích. Những kinh nghiệm kiếm sống đã tỏ ra lạc hậu trước cảnh thiên nhiên rừng núi Trường Sơn mỗi nơi mỗi khác, phong phú và đa dạng... Sang ngày thứ tư một sự cố hiểm nghèo đã đến! Hơn chín mươi phần trăm quân sô của đoàn học sinh đã bị ngộ độc vì một bữa nấm rất ngon mới ăn. Tất cả đều say, người nào người nấy mồ hôi vã ra như tắm, tim đập nhanh và mạnh tưởng như muốn phá vỡ lồng ngực bung ra, hai mắt lờ đờ. Riêng tôi không bị say không phải vì có sức đề kháng đặc biệt mà do là cán bộ chỉ huy, như các ngày thường, khi có món nấm bao giờ cũng nhường anh em ăn, vì tìm nấm không phải dễ, vả lại tìm được cũng do công sức của anh em. Bữa nay cũng vậy, để anh em ăn thoải mái rồi nêu còn thừa, tôi mới ăn, hết thì mình vui vẻ nhịn.
Nhìn thấy anh em nằm lịm, tôi phát hoảng, không biết làm cách gì để cứu chữa ở giữa chốn rừng xanh không dấu chân người này.
Giữa lúc tưởng chừng như bất lực, tôi bỗng sực nhớ bài thuốc dân gian qua một bà cụ già người dân tộc truyền cho: dùng phân người đốt thành than rồi hòa với nước cho uống.
Tôi làm theo kinh nghiệm của cụ già kể, anh em tỉnh dần. Khi anh em khỏi hẳn, tôi thuật lại tình hình như vừa kể. Mọi người nghe xong cười ồ sảng khoái và tặng tôi danh hiệu: thầy lang chánh hiệu.
Phải mất gần một tuần lễ chúng tôi mới tới được địa phận tính Phú Yên. Tinh thần anh em vẫn giữ vững, không ai tỏ ra nao núng bàn chùn. Nhưng tinh thần dù cao đến đâu vẫn có giới hạn, nếu sức khỏe cứ giảm sút thì cũng không đi tới đích được. Càng những ngày sau, dấu hiệu thể lực giảm càng thấy rõ, chuyện trò, tán vui ít, tốc độ hành quân tụt, chặng đường đi trong ngày cứ ngắn dần.
Đêm đầu tiên nằm ở địa phận tỉnh Phú yên, tôi cứ trằn trọc, mặc dầu đây là phần đất tự do của Liên khu V, hết cảnh giặc giã rồi. Không phải nhớ quê hương, nhớ gia đình, cũng không hoàn toàn do cái đói cơm trong dạ dày cào xé mà lo trách nhiệm phải hoàn thành như đã hứa với cấp trên trước lúc lên đường: Khắc phục khó khăn đi tới đích học tập... Sớm hôm sau tôi dậy sớm, đồng thời đánh thức anh em cùng dậy. Không phải là để chuẩn bị hành quân tiếp mà là họp bàn một vấn đề tôi chợt nghĩ trong đêm qua.
Cuộc họp diễn ra ở thượng nguồn khe cạn gần vạt rẫy cách đường số 7 không xa lắm. Thoạt đầu anh em tưởng bàn kế hoạch đề phòng máy bay địch oanh tạc, nên ai nấy dểu nghiêm túc theo dõi cử chỉ hành động của tôi.
Nhìn gương mặt xanh xạm, thân hình gầy yếu của những người đồng ngũ ngồi trước mặt, tôi xúc động và chậm rãi trình bày ý định của mình: Đoạn đường tới đích ta mới đi được một phần ba. Để có thể đủ sức khỏe đi tiếp đoạn đường còn lại, chúng ta cần phải có gạo, có tiền...
Tôi chưa nói hết thì có tiếng hỏi cắt ngang như thách thức:
- Kiếm đâu ra gạo, tiền ở giữa chốn rừng hoang này?
Tôi trả lời liền không chút chần chừ, vì việc này tôi đã nghĩ kỹ suốt đêm qua:
- Hái ớt - đưa mắt nhìn một lượt như dò tìm người đồng tình, tôi tự tin nói tiếp - Hái ớt mang xuống chợ bán...
Thế là một cuộc tranh luận diễn ra rất sôi nổi, vang cả khe cạn Số đông lúc đầu không tán thành vì nghĩ bộ đội ai lại làm vậy một phần vì không quen, xấu hổ, khi ra chợ nhỡ gặp người quen nhất là phụ nữ, biết ăn nói làm sao!
Một vài ý kiến đồng tình, cho là làm như vậy cũng không phạm kỷ luật gì ảnh hưởng đến phẩm chất người quân nhân. Mà hái ớt mọc hoang ở những bìa rừng đem chợ bán chứ có làm điều gì phi pháp đâu mà lo.
Sau khi tất cả nhất trí, chúng tôi bàn cách thực hiện: Sẽ đan sọt lót lá kín xung quanh, ớt để giữa, như gánh gạo. Ra đến cửa rừng, chờ tối mới gánh tiếp xuống chợ bán (hồi ấy các chợ ở vùng tự do Khu V đều họp về tối đề phòng máy bay địch bắn phá).
Hái ớt, đan sọt gánh ra chợ thì ai cũng vui vẻ nhận, chỉ còn việc bán thì số thanh niên trẻ vẫn tỏ vẻ ngại. Tôi liền giải đáp:
- Xuống đến chợ Tuy Hòa, các anh em cứ để đấy, ai có người quen thăm người quen, nếu không có thì đi chơi chợ, để tôi và chú Ba1 lo biệc bán.
Bệnh sĩ diện được giải tỏa, mọi người đều thông suốt. Những quả ớt mình nhỏ, vỏ đỏ, nhấm một tí ở đầu lưỡi đã cay ran cả người, gây cảm giác nóng ra toàn thân, đã được chúng tôi thu hái đóng thành mười hai gánh, gọn đẹp như những gánh gạo của các cổ dân công hỏa tuyến đưa lương thực tiếp tế cho bộ đội chiến đấu.
Đúng vào lúc chợ Tuy Hòa đông người mua bán thì chúng tôi cũng vừa tới. Mười hai gánh ớt được đặt ở ngay giữa chợ, do tôi và chú Ba đứng bán. Người qua lại rất đông, nhìn chúng tôi bằng con mắt tò mò, ngạc nhiên, nhưng không ai hỏi mưa. Mới mười phứt trôi qua mà tôi thấy lâu quá chừng, người cứ thấy bồn chồn, bối rối. Mắt tôi cứ dán vào người qua lại, theo dõi xem có ai hỏi mua không, còn đầu óc tôi thì nghĩ mông lung đủ chuyện phiền toái sẽ xảy ra nếu ớt bị ế! Chú Ba tôi thì ngược lại, dáng điệu vẫn vô tư, lạc quan, mời chào rất niềm nở.
Một người đàn bà đứng tuổi cúi xuống xem mặt ớt, rồi hỏi chú Ba tôi:
- Bác bán ớt hả?
- Dạ phải.
Tôi thở phào nhẹ nhõm. Chú Ba đon đã mời chào:
- Bác mua nhiều hay ít - chú cúi xuống bốc một nắm ớt hai tay nâng niu mời khách - ớt tôi đều quả, rất cay.
- Nếu được giá, tôi mua tất.
Thế là chú Ba dẫn người đàn bà đi xem hàng và ngã giá bán. Tôi như mở cờ trong bụng, thế là có tiền rồi, chuyến đi của chúng tôi tới đích có thêm thuận lợi.
Mười hai gánh ớt bán được 1.200 đồng (tiền tín phiếu được phát hành dùng trong vùng tự do Khu V thời đó).
Ớt bán được, anh em ai nấy đều phấn khởi. Có tiền chi tiêu dọc đường. Từ chỗ kiếm sống bằng đào củ mài, hái nấm rừng, nay có tiền đong gạo, mua thức ăn, chúng tôi đều cảm thấy lại sức phấn chấn đi tiếp chặng đường còn lại.
Từ Phú Yên, phải mất tròn một tuần lễ nữa chúng tôi mới tới Quảng Ngãi, thì khóa huấn luyện thứ nhất vừa kết thúc, học sinh tốt nghiệp lớp này ai nấy đều phấn khởi, tin tưởng, chuẩn bị đi thực tâp để kiểm nghiệm những điều mình đã học.
Khóa huấn luyện thứ hai được mở ngay. Các anh trong ban phụ trách gặp tôi nói: Mọi thứ đã chuẩn bị xong, chỉ chờ đoàn Khánh Hòa ra là bắt đầu; tình hình rất khẩn trương vì các chiến trường đang đòi hỏi.
Trường học dặt tại huyện Tư Nghĩa, cạnh thị xã Quảng Ngãi. Học sinh lớp này gồm có đoàn tỉnh Khánh Hòa và đoàn Khu V do anh Châu Khải Địch phụ trách. Huấn luyện viên là ba anh Nguyễn Hữu Liêm, Trần Thắng Nê và Nguyễn Văn Đôi từ Nam Bộ cử ra. Thực chất của lóp học là nghe kinh nghiệm đánh đồn bót, tháp canh của chiến trường Đông Nam Bộ do ba anh truyền đạt. Những kinh nghiệm đã được các đồng chí Nam Bộ tuyển chọn, biên soạn và đánh máy bằng giấy pơ-luya trắng mang tên Kinh nghiệm chiến đấu đặc công, có hình vẽ minh họa các loại hàng rào, tháp canh - đồn bốt địch và các loại vũ khí tự tạo dùng để đánh dồn. Tập tài liệu này do anh Nguyễn Hữu Liêm mang theo dùng để huấn luyện Đặc công ở Bình Thuận, Khu V và sau đó mang ra báo cáo nộp Cục Quân báo, Bộ Tổng Tham mưu.
Thời gian học tất cả là mười lăm ngày. Phần lý thuyết rất ngắn gọn, chủ yếu dành cho thực hành kỹ thuật tiềm nhập vào đồn bót địch trong điều kiện có rào kẽm gai, có bãi chông mìn, có đèn pha, pháo sáng kiểm soát, có lính địch canh phòng cẩn thận; kỹ thuật đóng gói và sử đụng thủ pháo, bộc phá, lựu đạn ném đúng lỗ châu mai v.v...
Cũng chẳng có trường lớp hẳn hoi. Tất cả đều học tại thao trường. Ở đó được đựng mô hình đồn bót địch giống như trên thực tế, rồi vừa giảng lý thuyết, giáo viên vừa tự mình thực hành các động tác mẫu, sau đó từng người lần lượt luyện tập dưới sự chỉ dẫn uốn nắn của giáo viên, cho đến khi nào thành thạo mới thôi.
Mọi thứ đều thiếu thốn, ăn đói, ở nhờ nhà dân, nhưng ai nấy đều yên tâm, phấn khởi học tập. Thực ra thì tất cả chúng tôi trước khi về đây đều ít nhiều đã đánh địch theo kiểu này nhưng còn thô sơ, bản năng, chỉ qua thực tế khó khăn mà nảy sinh sáng kiến khắc phục. Ví như trận diệt đồn Tân Kiều được xem như đánh theo lối đánh đặc công, chỉ khác là chưa thành bài bản hẳn hoi. Về đây học, các kinh nghiệm được đúc kết làm cho vấn đề mà mình đã thực hành có lý lẽ hệ thống, đồng thời nó cũng soi sáng những vấn đề mình đang bí hoặc chưa nghĩ ra, chính vì thế mà chúng tôi rất ham học, không nghĩ gì đến khó khăn, vất vả cả.


