Hành trình trở về quê hương của cuốn nhật ký xka
Ông Peter Mathews, cựu binh Mỹ gốc Hà Lan kể lại: Đó là một ngày cuối năm 1967, dưới chân đồi 724 ở Đăk Tô, thuộc chiến trường Tây Nguyên, giữa rất nhiều ba lô và thi thể của một số người lính, ông tìm thấy một cuốn sổ nhỏ của bộ đội Việt Nam có nhiều hình vẽ đẹp mắt và những dòng chữ mà ông không hiểu. Lúc này, ông Peter Mathews nhận thấy đây dường như là một cuốn nhật ký cá nhân, nên đã nhét vào túi của mình và sau đó theo ông sang nước Mỹ.
Liệt sĩ Cao Xuân Tuất sinh năm 1946 trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng ở thôn Cao Thắng, xã Kỳ Xuân. Là con trai duy nhất trong gia đình có bốn chị em, năm 1963, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, liệt sĩ Cao Xuân Tuất lên đường nhập ngũ khi chưa lập gia đình và chiến đấu ở mặt trận phía Nam. Đến năm 1972, gia đình nhận được giấy báo tử là cậu đã hy sinh, không để lại kỷ vật gì. Sau khi ông bà ngoại mất thì ông Hà Huy Mỳ là cháu đã đứng ra thờ cúng liệt sĩ cho đến nay.
“Cuốn nhật ký là kỷ vật thiêng liêng còn lại của người cậu, vì lý do khách quan, gia đình không hề có di ảnh và cũng như chưa tìm được phần mộ của liệt sĩ. Gia đình sẽ lưu lại thật cẩn thận để giáo dục con cháu mai sau. Qua đây, gia đình cũng thắp thêm niềm hy vọng, sau khi nhận được cuốn nhật ký và gặp gỡ ông Peter Mathews sẽ có thêm manh mối để gia đình sớm tìm được phần mộ liệt sĩ Cao Xuân Tuất”.
Tận mắt chứng kiến cuốn nhật ký của liệt sĩ Cao Xuân Tuất được người cựu binh Mỹ lưu giữ cẩn thận, đó là cuốn sổ nhỏ có bìa bọc bằng nilon với 104 trang viết tay. Bên trong là những trang chép tay các bài nhạc, bài thơ về tình yêu đất nước, quê hương và khí thế sục sôi của chàng thanh niên Cao Xuân Tuất lên đường bảo vệ Tổ quốc.
Những dòng chữ trong cuốn nhật ký, chàng thanh niên Cao Xuân Tuất thể hiện lập trường, tư tưởng “Đảng là mẹ hiền, tổ quốc trên hết, thanh niên anh dũng tiến lên” hay có đoạn, anh chép “Sống như những người cộng sản, làm việc đưa hết thân mình phục vụ cho cách mạng”. Anh cũng khắc ghi lời dạy của Bác Hồ: “Trung với Đảng, hiếu với Dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Bên cạnh đó, là những phút trải lòng của người lính trên những chặng hành quân khi nhớ Mẹ, nhớ người yêu thương. Anh nhắn mẹ “Đêm giao thừa lòng con nhớ mẹ. Trời đã khuya, gió nhè nhẹ từng cơn….”, và không quên nhắn nhủ người Mẹ yêu thương “Mẹ ơi miền Nam sóng gió hôm nay, như ngày mai đây mây đan trời trong sáng, như hai miền với nhịp cầu Hiền Lương, mẹ con sẽ đoàn viên xóa hết buồn và thương”.
Nhắn nhủ tới người “em” trong bài thơ “Xa em”, liệt sĩ Cao Xuân Tuất viết “Trái tim tôi là một trái tim thiêng liêng của Tổ Quốc”, “Ngày mai hết chuyện chiến tranh/Bắc Nam thống nhất thì anh trở về”…



