Bài viết

Hẹn ngày về nơi vừng hồng xán lạn

"Mùa đông năm nay, tôi ra đi cùng đồng đội nhịp bước quân hành trên đường Nam tiến. Trong bước đường đi tới, chắc có nhiều kỷ niệm sâu sắc lắm...

Hà Tĩnh12/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Mùa đông năm nay, tôi ra đi cùng đồng đội nhịp bước quân hành trên đường Nam tiến. Trong bước đường đi tới, chắc có nhiều kỷ niệm sâu sắc lắm. Tôi muốn ghi lại tất cả, dù đó là trùng dương sóng dữ hay vừng hồng xán lạn... ”. Đây là những dòng mở đầu của cuốn nhật ký viết bằng thơ, với hơn 50 bài của dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn Văn Tâm. Đằng sau những câu thơ dung dị, chân chất là ký ức chiến trường thấm máu và nước mắt của người chiến sĩ giải phóng quân, dẫu hơn 40 năm đã trôi qua vẫn làm người đọc xúc động.

Ra trận mùa xuân

Nguyễn Văn Tâm sinh năm 1948, tại xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Tháng 6-1965, anh tình nguyện nhập ngũ, hành quân vào chiến trường miền Nam cuối năm 1965, thuộc Đại đội 7, Tiểu đoàn 12, Trung đoàn 68, Sư đoàn 304. Vào chiến trường miền Đông Nam Bộ, anh được bổ sung vào Đoàn Pháo binh Biên Hòa, chiến đấu hơn 10 năm trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, cho đến ngày toàn thắng.

CCB Nguyễn Văn Tâm (bên trái) và đồng đội cũ.

Cuốn nhật ký được ghi từ ngày anh vượt Trường Sơn vào Nam. Ở trang đầu, Nguyễn Văn Tâm viết: "Hôm nay, bước vào Trường Sơn, núi rừng trùng điệp, ngoái đầu nhìn lại miền Bắc thân thương, làng mạc đang phủ lớp mưa bụi báo hiệu sắp sang xuân. Trong giây phút tâm hồn tôi như bay bổng diệu kỳ. Chào Hà Nội, chào quê hương, tôi lên đường chống Mỹ, hẹn ngày về khi Nam Bắc rợp bóng cờ hoa”.

Trong những ngày xuân của 40 năm về trước, Nguyễn Văn Tâm cùng đồng đội của anh đã đi vào nơi lửa đạn với một tâm hồn trẻ trung, phơi phới:

Rộn ràng miền Bắc vào xuân mới/ Bão nổi miền Nam dậy đất trời/ Ôi nhộn nhịp mùa này hân hoan thế!/ Đất nước vào xuân, rừng núi vui mừng. Tinh thần ấy lại vang lên trong một bài thơ khác: Hà Nội ơi! Đêm nay Mồng Một Tết/ Tôi vui xuân trên trận địa rền vang/ Voi của tôi gầm lên nhả đạn/ Cùng với miền Nam dải đất thành đồng/ Quê hương ơi! Vinh dự thay/ Nay tôi được xuống đường/ Chiến đấu cùng Sài Gòn rực lửa. (Lai Khê, 2-1968).

Đón Giao thừa giữa rừng xanh, anh và đồng đội trào dâng niềm xúc động khi được nghe Bác Hồ đọc thơ chúc Tết: Anh pháo thủ ơi!/ Đêm nay anh nghỉ lại/ Giữa rừng xanh Bà Tứ, Lai Khê/ Trời se lạnh nhưng lòng anh ấm lắm/ Bởi giọng nói Bác Hồ/ Vọng từ đất Thủ đô/ Giữa giao thừa xuân mới (Xuân 1966)... Ba năm sau đó, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, khi nghe tin Bác mất, anh đã viết những dòng thơ cảm động: Lòng chúng cháu bàng hoàng đau đớn/ Khi nghe tin Bác đã mất rồi/ Chúng cháu đồng thanh chỉ có một lời/ Chắc tay súng giữ đất trời Tổ quốc/ (Bác đi xa, tháng 9-1969, Dầu Tiếng).

Trên bước đường hành quân, nỗi nhớ mẹ, nhớ quê hương luôn thường trực trong lòng: Mẹ ơi, sớm sớm chiều chiều/ Con đi, con nhớ bao nhiêu cảnh nhà/ Nhớ quê hương trong buổi chiều tà/ Làn khói tỏa, nhà nhà lên lửa... (Xuân xa nhà, 1966). Và thấp thoáng trong đó là hình ảnh người bạn gái: Người yêu em đang rộn bước quân hành/ Vượt gian khổ để giành thắng lợi.

Dẫu cuộc sống nơi chiến trường đầy gian khổ, hy sinh nhưng âm hưởng của cuốn nhật ký là tinh thần lạc quan cách mạng của người chiến sĩ giải phóng quân: Pháo nặng đường xa, ta quyết đi/ Trường Sơn dốc đứng, có hề chi/ Gian lao, vất vả đời trai trẻ/ Hiến cả tuổi xuân, có ngại gì (Pháo Trường Sơn, 1971). Anh cũng cảm thấy như cảnh vật xung quanh động viên, khích lệ mình: Suối Tha La reo vang/ Như hát lên bài ca pháo thủ/ Tặng anh chiến sĩ vai sắt chân đồng/ Giục giã anh vững lòng bắn trúng...

Tình đồng chí, nghĩa đồng bào

Trong lần tham gia Chiến dịch Lộc Ninh tháng 10-1967, Nguyễn Văn Tâm tình cờ gặp lại người bạn học cùng quê và càng vui hơn khi đơn vị của anh và bạn mình hiệp đồng đánh đồn Măng Cải: Bộc phá rung lên bung cửa mở/ Lộc Ninh chiến thắng địch thua đau. Thế nhưng chưa kịp vui khi đón tin thắng trận, anh đã phải bàng hoàng đau xót vì trong trận đánh này, bạn của anh đã anh dũng hy sinh. Anh trút nỗi lòng tiếc thương bạn qua những dòng thơ: Chiên đã hy sinh trên đất này/ Bạn ơi, an nghỉ chốn rừng cây/ Thương tiếc để lòng, hương chẳng có/ Đêm buồn ứa lệ nhớ thương thay (Lộc Ninh viếng bạn, 28-10-1967).

Xa quê hương lên đường đánh giặc nhưng Nguyễn Văn Tâm và đồng đội của anh luôn được sống trong sự đùm bọc, chở che của nhân dân. Anh vẫn có những người mẹ, người chị, người em trên những bước đường chiến đấu. Trong bài “Xa chị”, anh viết: Em đi ngày tháng gian lao/ Xa chị, xa cả biết bao nghĩa tình/ Tình chị em tình quân dân cá nước/ Nghĩa đồng bào nghĩa trọn hiếu trung. Anh tự nhủ: "Phải chăng những người giải phóng quân chân mang dép cao su, đầu đội mũ tai bèo không quản gió sương, ngày đêm lăn lộn chiến đấu trên khắp các chiến trường, mang lại nguồn sống hạnh phúc, êm ấm cho nhân dân. Phải chăng anh giải phóng quân giản dị, hiền hòa, có lòng kính mến đồng bào tha thiết... Ngày lại ngày trôi qua, được sống trong tình cảm mặn nồng ấy là nguồn động viên và cổ vũ tôi phải làm gì đây để đáp lại tấm lòng thiết tha với cách mạng của đồng bào?”.

Hơn 10 năm chiến đấu trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, tham gia hơn 50 trận đánh kiên cường, dũng cảm, ông Nguyễn Văn Tâm được tặng thưởng nhiều huân, huy chương, và đặc biệt vinh dự 5 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, CCB Nguyễn Văn Tâm trở về quê hương sống hạnh phúc với người vợ hiền và con cháu tại quê hương Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn