Hết lòng vì quê hương, đất nước
Hết lòng vì quê hương, đất nước
Trên mảnh đất Tây Ninh trung dũng kiên cường, ta luôn tự hào về những tấm
gương sáng, đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng
quê hương. Họ là những người lính dũng cảm xông pha ra trận, những người cán
bộ thầm lặng, cần mẫn xây dựng quê hương sau chiến tranh. Bài viết này xin được
giới thiệu hai tấm gương tiêu biểu, những người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự
nghiệp bảo vệ và phát triển quê hương.
Đến xã Mỹ Hạnh hỏi nhà ông Mai Văn Cương (SN 1948) hẳn ai cũng biết. Bởi ông
là người có uy tín và được người dân hết sức kính trọng bởi những đóng góp to lớn
cho sự phát triển của địa phương.
Ông Cương lớn lên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1968, khi
chỉ mới 20 tuổi, hừng hực khí thế tuổi trẻ, ông tham gia du kích tại địa phương.
Không may, ông bị máy bay bắn trúng và bị địch bắt. Sau nhiều lần tra tấn, khai
thác không thành, năm 1969 ông bị đày ra đảo Côn Đảo, nơi được mệnh danh là
“địa ngục trần gian”. Tại đây, ông phải chịu đựng những cực hình ghê rợn về thể
xác lẫn tinh thần. Tuy nhiên, với ý chí kiên cường và lòng yêu nước nồng nàn, ông
đã vượt qua mọi thử thách và tra tấn, không hề khai báo cho địch.
Nhớ lại ký ức bi thương về những ngày tháng tù đày, ông Cương kể, từ năm 1969
đến năm 1973, ông Cương đã trải qua những tháng ngày tù đày đầy gian khổ và ám
ảnh. 1 tháng 17 ngày bị giam trong phòng biệt lập, 2 ngày trong chuồng cọp khắc
nghiệt với cái nắng như thiêu như đốt, ông đã phải chịu đựng sự tra tấn tinh thần và
thể xác vô cùng tàn khốc. Sau đó, ông bị chuyển đến khu giam tập thể, nơi chật
chội, tù nhân chen chúc nhau trong căn phòng dài 30 mét, ngang 4-5 mét, với hơn
100 người. Mỗi ngày chỉ được phát cơm và nước 2 lần, thậm chí việc vệ sinh cũng
phải giải quyết tại chỗ.
Ông Cương cũng được đề nghị "chiêu hồi". Khi ông kiên định ý chí chỉ trở về khi
hòa bình lập lại, ông đã phải hứng chịu những trận đòn tra tấn dã man. Dù trải qua
những tháng ngày tù đày đầy gian khổ và ám ảnh, ông Cương vẫn giữ vững tinh
thần kiên cường, bất khuất. Ký ức về những ngày tháng đó là minh chứng cho sự
hy sinh to lớn của ông cho độc lập tự do của dân tộc.
Năm 1973, sau Hiệp định Paris, ông Cương được trả tự do. Sau khi ra tù ông trở ra
Bắc an dưỡng. Dù sức khỏe còn yếu, nhưng khi trở về nam ông vẫn tiếp tục tham
gia chiến đấu ở chiến trường Mỹ Tho (Quân khu 8) và biên giới Tây Nam. Với tinh
thần “Sống vì Đảng, chết vì Đảng”, ông Cương đã cống hiến cả tuổi thanh xuân
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Năm 1984 ông bị mất sức 61% và trở về địa phương. Với tinh thần quyết tâm,
phấn đấu xây dựng quê hương, ông được Đảng bộ bầu làm Bí thư Đảng ủy xã Mỹ
Hạnh Nam.
Từ 1984 đến 1990, ông đảm nhiệm nhiều cương vị tại huyện Đức Hòa như Phó
Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Huyện ủy, Trưởng Ban Dân vận huyện ủy, Phó Chủ
tịch Hội đồng Bhân dân huyện, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy. Về hưu năm
2005, ông vẫn miệt mài phụng sự quê hương, từng giữ vai trò Phó Chủ tịch Hội
Khuyến học huyện, Chủ tịch Hội Khuyến học xã, Chủ tịch Hội cựu Thanh niên
xung phong xã,... Hiện nay, ông làm Trưởng ban liên lạc những người tù kháng
chiến huyện Đức Hoà.
Dù mang trên mình vết thương chiến tranh, ông luôn hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ được giao. Ông vun đắp cho các xã chi hội, nắm bắt chính sách, giải
quyết chế độ cho những đồng đội còn thiếu sót. Là tấm gương sáng trong sinh hoạt
đảng và công tác hội, ông luôn tuân thủ quy định, đề cao tinh thần đoàn kết, đồng
chí. Ông tôn trọng, phát huy quyền làm chủ tập thể, đề cao dân chủ để cùng nhau
hoàn thành nhiệm vụ chính trị địa phương. Dưới sự lãnh đạo của ông, công tác
khuyến học xã luôn đứng đầu huyện. Trong giai đoạn 2010-2020, ông vận động
gần 1 tỉ đồng tiền và quà cho học sinh địa phương.
Trong xây dựng gia đình, ông có 5 người con, 4 gái 1 trai, đều thành đạt và có cơ
ngơi ổn định. Các con cũng làm việc trong nhà nước và tiếp tục xây dựng quê
hương. Vào dịp lễ, tết, ông thường kể cho con cháu nghe về những năm tháng
kháng chiến gian khổ, khơi dậy lòng yêu nước và ý chí học tập, rèn luyện để tiếp
nối truyền thống tốt đẹp của gia đình.
Đối với gia đình ông gương mẫu; đối với xóm giềng chân tình, giản dị hòa đồng
vận động mọi người sống tốt đời đẹp đạo, chấp hành tốt đường lối chính sách của
Đảng và pháp luật nhà nước. Ông cũng tích cực tuyên truyền, vận động người dân
hiểu thông, làm đúng, đủ, giúp đỡ lẫn nhau, góp phần xây dựng quê hương ngày
càng văn minh, giàu đẹp.



