HI CÔNG Trung tướng Nguyễn Đức Soát
HI CÔNG Trung tướng Nguyễn Đức Soát
PHI CÔNG Trung tướng Nguyễn Đức Soát: Có một lời nguyền về tình yêu với bầu trời
Tháng cuối cùng của năm 2022, trong khí thế hào hùng của các ngày kỷ niệm Quân đội Nhân dân Việt Nam và lực lượng Phòng không - Không quân, Dân Việt có cuộc trò chuyện với Trung tướng Nguyễn Đức Soát về những năm tháng oanh liệt, về những đồng đội một thời vào sinh ra tử…

Nhà thơ Hữu Việt - con trai của nhà văn Hữu Mai - tác giả tiểu thuyết "Vùng trời", đã nhận xét: Trung tướng Nguyễn Đức Soát là người "sinh ra để bay lên, sinh ra để thuộc về bầu trời…". Thời còn trẻ, có bao giờ ông tưởng tượng mình sẽ trở thành phi công tiêm kích, bắn hạ 6 máy bay Mỹ?
- Nếu nói hồi trẻ tôi có nghĩ đến việc trở thành phi công không thì không, bởi trước đó chưa có hình ảnh phi công để hình dung, mơ ước. Rất lâu sau này mới có những bài hát "Mai đây em lớn em làm phi công, bay cao hơn nữa anh ơi biết không…" cho lớp lớp các em nuôi ước vọng chinh phục bầu trời.
Nhưng có một điều tôi chắc chắn, đó là vào không quân lúc chiến tranh thì bom rơi, đạn lạc.
Năm 1965, Mỹ chính thức tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, sử dụng không quân đánh phá miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện cho chiến trường miền Nam.
Ngày 3/4/1965, Đài Tiếng nói Việt Nam phát bản tin, Báo Nhân Dân đưa bài, ảnh phi công Phạm Ngọc Lan bắn rơi máy bay Mỹ ở cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa)... Thắng lợi ấy như lời động viên hàng vạn học sinh, sinh viên xếp bút nghiên lên đường ra mặt trận.
Hòa trong dòng người đi khám sức khỏe vào bộ đội, tôi cũng có mặt và chắc mẩm kiểu gì cũng được nhận, bởi tôi có dáng người cao to, có sức khỏe tốt. Nhưng không hiểu sao, sau vài lần khám sức khỏe, kết quả khám lại thuộc loại B2 (loại thấp nhất), các bác sĩ đều kết luận tôi không đủ điều kiện nhập ngũ. Khi đó, bạn bè gọi tôi là "to xác", "chân đất sét"...".
Mấy ngày sau đó, đoàn giám định của Trường Sĩ quan không quân về địa phương tuyển chọn phi công và chọn được 2 người, trong đó có tôi. Tôi ra Bệnh viện 108 ở Hà Nội khám sức khỏe tiếp trong 2-3 ngày liền. Các bác sĩ thông báo tôi đáp ứng được nhiệm vụ, thậm chí còn được đánh giá là có sức khỏe tốt nhất trong nhóm tuyển chọn.
Đúng lúc này gia đình lại nhận được giấy báo tôi được cử đi học ở Đức nên tôi phân vân. Ngày đó để được đi nước ngoài học rất hiếm và xa xỉ, nhưng đi Đức rồi thì không lái máy bay được nữa. Một sự lựa chọn khó khăn với tôi. Tôi nấn ná chờ thêm 5 ngày, nếu không có giấy báo trúng tuyển phi công thì sẽ đi Đức học.
Nhưng tôi không phải chờ lâu, đến ngày thứ ba, một thượng úy không quân cùng cán bộ xã đến thông báo rằng hai ngày tới tôi đến tập trung tại Tỉnh đội Hà Đông để nhập ngũ vào không quân và đề nghị gia đình giữ kín chuyện.
Biết tôi chọn đi học phi công, bố mẹ tôi phản đối, đặc biệt là mẹ. Bà khóc hết nước mắt và tìm mọi cách ngăn cản. Anh ruột tôi từng tốt nghiệp Trường Sĩ quan không quân rồi tham gia chiến đấu ở chiến trường Lào. Anh là sĩ quan không quân đầu tiên hy sinh, năm ấy anh tôi tròn 22 tuổi.

Chiến tranh đã cướp đi người con trai cả của mẹ tôi. Sau này, khi đã là một người cha, tôi mới hiểu vì sao mẹ tôi lại nhất quyết phản đối chuyện tôi đi lính, làm phi công.
Điều này cũng giải thích lý do vì sao tôi luôn bị "đánh trượt" mỗi khi đi khám sức khỏe. Anh trai tôi là sĩ quan phòng không mới hy sinh, nên tôi được miễn trừ quân ngũ. Đó là lòng tốt của mọi người đối với gia đình tôi.
Tuy nhiên, tình thế chiến tranh, các cán bộ huyện, xã đến nhà động viên, nên tôi đi học bay vì đất nước đang thiếu phi công chiến đấu. Tâm tư, nguyện vọng ngay từ đầu, tôi đã rất thích được làm phi công, đọc các bài báo về các trận đánh trên không và rồi những câu chuyện của Liên Xô (cũ) đã lôi cuốn tôi theo nghề này.
Thấy sự quyết tâm của con, mẹ tôi đành đồng ý nhưng bà vẫn canh cánh nỗi lo. Thời đó, thanh niên đi tòng quân được tiễn đưa rất náo nhiệt, riêng tôi âm thầm lên đường.
Hành trình từ một cậu học sinh "chân ướt chân ráo" vừa rời ghế nhà trường đến khi hoàn thành khoá học lái máy bay chiến đấu ở Liên Xô chắc hẳn là hành trình đầy kỷ niệm…
- Ngày 4/7/1965, tôi lên đường nhập ngũ trong tâm trạng buồn vui lẫn lộn. Chỉ sau 23 ngày, tôi cùng 58 học viên khác lên tàu từ ga Hàng Cỏ sang Liên Xô (cũ) học lái máy bay chiến đấu. Khác với các phi công học viên được đào tạo trước đó - thường có một năm dự bị để học tiếng Nga - thì chúng tôi chỉ được học tiếng Nga có ba tháng. Sau đó học ngay chương trình lý thuyết chuyên môn song song học tiếng.
Giai đoạn học lý thuyết thật vất vả. Từ đầu tháng 11/1965 đến giữa tháng 3/1966, chúng tôi phải tiếp thu một lượng kiến thức khổng lồ, với những môn học hoàn toàn mới mẻ mà học bằng tiếng Việt còn thấy khó.
Do nhu cầu cần sớm có lực lượng không quân bổ sung cho các lớp đàn anh đang chiến đấu, chúng tôi được đào tạo nhanh nhất có thể. Chỉ sau 2 năm 9 tháng, chúng tôi hoàn thành chương trình đào tạo phi công máy bay chiến đấu MiG-21, loại máy bay tiêm kích hiện đại nhất của Liên Xô thời ấy, trong khi chương trình đào tạo của bạn phải mất 5 năm.

Cuối tháng 4/1968, chàng phi công trẻ Nguyễn Đức Soát trở về Việt Nam. Mặc dù gặp bao nhiêu cảnh tàn phá, đổ nát nhưng cuộc sống chiến đấu vẫn rất sôi nổi, từ các bà các chị họp chợ ven đê, đến các cô gái cày bừa trên thửa ruộng, những thanh niên xung phong vừa đùa vui vừa làm việc.
Ông được phân công về Trung đoàn Không quân 921, một tháng sau, ông lên máy bay đi chiến đấu. Ngày 11/5/1968, phi công trẻ Nguyễn Đức Soát lần đầu cất cánh trên bầu trời Tổ quốc, tại sân bay Đa Phúc.
Cảm xúc trong lần đầu, từ trên cao nhìn xuống, ngô lúa, cỏ cây trang điểm cho mặt đất một màu xanh ngút ngàn. Dòng sông Hồng đỏ ngầu, cuồn cuộn lao ra biển, hai bên bờ là những làng mạc nhỏ bé. "Lần đầu được tung cánh, Tổ quốc mình đẹp thật!", ông thốt lên và nghĩ tới trách nhiệm của bản thân đối với gia đình, quê hương, đất nước...
"Niềm vui thật trẻ con, làm mình cứ rạo rực, lâng lâng" là cảm xúc ông đã ghi lại trong nhật ký về chiến công đầu tiên. Trận không chiến đó diễn ra như thế nào?
- Ký ức lần đầu tiên bắn rơi máy bay trinh sát không người lái tôi không bao giờ quên.
Phải nói thêm, những năm chiến tranh phá hoại miền Bắc, Mỹ đã phóng hàng trăm máy bay trinh sát không người lái nhằm trinh sát các hệ thống, tuyến đường, công trình của ta từ Thái Nguyên, Yên Viên, Văn Điển, cảng Hải Phòng nhằm cung cấp thông tin giúp Không quân Mỹ lập kế hoạch phá đám. Khu vực phóng thường từ Bà Lạt (Nam Định) hoặc đảo Hòn Mê (Thanh Hóa). Cái khó khi đánh máy bay này là do chúng nhỏ, bay thấp nên radar không bắt được mục tiêu.

Sáng hôm đó, trước giờ bay, tôi cùng đồng đội đang đo huyết áp thì còi báo động vang lên, chỉ ít phút sau biệt đội được lệnh cất cánh. Chỉ huy sở thông báo mục tiêu liên tục. Khi đã bay trên cao khoảng 400m, tôi phát hiện mục tiêu không người lái đang bay ở phía dưới, thấp hơn tiêm kích.
Tôi bay đuổi theo, trông thấy nó với các hình thù quái dị, 2 cánh chông chênh đỡ cái động cơ ở bụng, một cảm nghĩ vừa căm thù vừa khinh bỉ trong tôi dậy lên. Tuy radar không bám được nhưng chỉ trong thoáng chốc, máy bay trinh sát không người lái của Mỹ đã nằm gọn trong máy ngắm PKI của phi công Việt Nam.
Tốc độ tiêm kích rất lớn, vì thế tôi phải hết sức nhẹ nhàng mới giữ được điểm ngắm cố định, đến khi ở cự ly 1,5km tôi bóp cò. Quả tên lửa từ tiêm kích của tôi lao đi chệch hướng, nổ ngay cạnh máy bay không người lái của địch.
Sau 2 giây ổn định điểm ngắm, tôi lại ấn cò, quả tên lửa thứ hai được bắn đi rất căng, hướng về máy bay trinh sát, một đám lửa to lan rộng cùng tiếng nổ như tiếng pháo vang lên. "Trúng rồi! Cháy rồi!" – tôi cùng đồng đội hô vang chiến thắng. Tôi đã thành công khi lần đầu tiên bắn hạ máy bay trinh sát ở ngay khu vực núi đá vôi chùa Hương. Trở về đơn vị, bạn bè thợ máy chúc mừng chiến công, nhưng tôi vẫn thấy chưa vui trong lòng vì phải bắn tới phát thứ hai.
Là một phi công không sợ đối mặt với cái chết, liệu ông có nỗi sợ nào không?
- Tôi không sợ điều gì cả. Khi chiến đấu, trong đầu tôi chỉ nghĩ tới một điều là phải hoàn thành nhiệm vụ.



