HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ NĂM 1954 - MỘT THẮNG LỢI LỚN CỦA NỀN NGOẠI GIAO VIỆT NAM
Chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã đánh dấu sự thất bại và sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân Pháp tại Việt Nam, góp phần làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở cho cuộc đấu tranh ngoại giao thắng lợi tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương năm 1954, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Phát huy bài học kinh nghiệm từ việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ra sức phấn đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng trên các lĩnh vực; xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân thống nhất từ Trung ương đến địa phương góp phần nâng cao uy tín và vị thế của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Đầu những năm 50, chiến tranh lạnh bắt đầu từ châu Âu đã lan nhanh sang châu Á, các nước lớn tìm mọi cách tránh xung đột quân sự trực tiếp và chuyển dần sang đàm phán, hoà hoãn. Sau một thời gian đối đầu căng thẳng trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, các nước lớn đại diện cho hai phe bắt đầu có sự thoả hiệp, muốn giải quyết các vấn đề xung đột, vấn đề chiến tranh bằng giải pháp thương lượng, hoà bình. Trong khi đó, ở Việt Nam, cuộc chiến đấu tại chiến trường Điện Biên Phủ vẫn chưa đi vào hồi kết, thực dân Pháp vẫn ngoan cố nuôi ảo tưởng muốn giành một thắng lợi lớn về quân sự, tạo ra thế mạnh, hòng tìm lối thoát danh dự ra khỏi vũng lầy ở chiến tranh Đông Dương.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc của nhân dân ta là một đấu tranh chính nghĩa. Trong cuộc chiến đấu không cân sức đó, sự hậu thuẫn của cộng đồng quốc tế, của các lực lượng yêu chuộng hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội trên thế giới đối với cách mạng Việt Nam ngày càng mạnh mẽ. Sự chính nghĩa ấy càng sáng ngời, thế và lực của chúng ta ngày càng hùng hậu. Tinh thần thiện chí, tư tưởng hoà bình, phương châm hoà hiếu làm cơ sở, làm nền tảng trong vấn đề xử lý các mối quan hệ quốc tế của ngoại giao Việt Nam, luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao. Người nêu rõ: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Chính phủ Pháp gây ra, nhân dân Việt Nam phải cầm vũ khí anh dũng chiến đấu bảy, tám năm nay chống kẻ xâm lược chính để bảo vệ nền độc lập và quyền tự do được sống hòa bình. Hiện nay, nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó... Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thực sự của nước Việt Nam” [3, tr.168].Trong bối cảnh chiến dịch Điện Biên Phủ đang bước vào giai đoạn quyết liệt, ngày 15/03/1954, báo cáo trước Hội đồng Chính phủ, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng nêu rõ: “Phương châm đấu tranh của ta là vừa đánh, vừa nói chuyện. Phải chủ động cả hai mặt nhưng yếu tố quyết định vẫn là đấu tranh quân sự. Ta càng đánh càng thắng, nói chuyện càng thuận lợi... Phải tích cực chủ động cả về quân sự lẫn ngoại giao”.
Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ lập trường trước sau như một của nhân dân ta là sẵn sàng thương lượng để giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam trên cơ sở độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng thực dân Pháp vẫn ngoan cố tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược. Cho đến cuối năm 1953 đầu 1954, do liên tiếp bị thất bại nặng nề và gặp nhiều khó khăn, thực dân Pháp mới chịu thay đổi thái độ.
Tháng 01/1954, Hội nghị ngoại trưởng 4 nước (Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp) tại Béclin (Đức) đã thoả thuận triệu tập Hội nghị quốc tế tại tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ) để giải quyết tình hình trên bán đảo Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương. Ngày 26/04/1954, khi quân ta kết thúc chiến dịch tấn công đợt 2, chuẩn bị cho đợt tấn công quyết định cuối cùng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương chính thức khai mạc tại Thụy Sĩ.
Ngày 08/05/1954, phái đoàn chính phủ ta do ông Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn bước vào bàn Hội nghị với tư thế đại biểu cho một dân tộc chiến thắng. Tham dự Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương có đại diện 9 nước: đoàn Liên Xô do Môlôtốp đứng đầu, đoàn đại diện Công hoà nhân dân Trung Hoa do Chu Ân Lai đứng đầu, đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà do Phạm Văn Đồng đứng đầu, đại diện Cộng hoà Pháp do Biđôn (G.Bidault) đứng đầu, đoàn đại diện Mỹ do Smit đứng đầu, đoàn đại diện Anh do Iđơn (Eden) đứng đầu, cùng các đoàn đại diện của chính quyền Bảo Đại (Nguyễn Quốc Định), Chính phủ Vương quốc Campuchia (Nhiếp Tiên Long) và Chính phủ Vương quốc Lào (Phoui Sananikone) [5, tr173].
Tại diễn đàn Hội nghị, thay mặt Chính phủ Việt Nam, ông Phạm Văn Đồng đã đưa ra bản đề nghị 8 điểm, tuyên bố lập trường cơ bản, nhất quán của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc lập lại hoà bình ở Đông Dương phải là một giải pháp toàn bộ về chính trị và quân sự cho cả Việt Nam, Lào và Campuchia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của từng nước ở Đông Dương. Vấn đề thống nhất nước Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam tự giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài,… Những đề nghị hợp tình, hợp lý của Đoàn đại biểu Việt Nam đã được dư luận tiến bộ ở chính nước Pháp và trên thế giới đồng tình, ủng hộ.
Trải qua 75 ngày đấu trí căng thẳng giữa các bên, với 31 phiên họp, trong đó có 7 phiên họp toàn thể, 24 phiên cấp Trưởng đoàn, ngày 20/07/1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào và Campuchia được ký kết. Ngày 21/07/1954, Hội nghị Giơnevơ kết thúc, thông qua bản Tuyên bố chung. Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ gồm có 13 điều, trong đó bao gồm những nội dung quan trọng như đình chỉ chiến sự, lập lại, duy trì và củng cố hòa bình; tổng tuyển cử thống nhất đất nước; và các vấn đề thi hành hiệp định cho toàn bộ Đông Dương,…đã được đại diện các nước tham dự hội nghị chấp thuận cam kết chính thức. Nếu như trước đây, tại Hiệp định Sơ bộ (06/03/1946), Pháp chỉ công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp, thì tại Hội nghị này, trước sự đấu tranh kiên quyết của ta, Pháp buộc phải công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Tuy nhiên, vẫn còn có những vấn đề chưa được giải quyết: Đất nước chưa hoàn toàn thống nhất, hai miền Nam-Bắc tạm thời bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17 với thời hạn 2 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử. Trong tương quan lực lượng giữa ta và địch, nhất là trong bối cảnh quốc tế lúc đó, khi mà các nước lớn có xu hướng hòa hoãn thì đây là một điểm dừng cần thiết, một quyết định sáng suốt. Với Hội nghị Giơnevơ năm 1954, lần đầu tiên Việt Nam tham dự một hội nghị quốc tế cùng với tất cả các nước lớn, chủ động bảo vệ và thực hiện lợi ích của mình. Hội nghị Giơnevơ là một cuộc đấu tranh ngoại giao gay go và phức tạp, cuộc đấu trí ngoại giao đầu tiên của chúng ta cùng một lúc với nhiều nền ngoại giao lớn trên thế giới. Trong “Lời kêu gọi”sau khi Hội nghị Giơnevơ thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hội nghị Giơnevơ đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng lợi to,... Chúng ta giành được thắng lợi to lớn” [4, tr1] . Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cũng ra “Lời kêu gọi gửi đồng bào, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ toàn quốc” đã nhấn mạnh: “Đạt được Hiệp định nói trên là một thắng lợi vĩ đại của nhân dân và quân đội ta... Đó là kết quả của chín năm kháng chiến của đồng bào toàn quốc từ Nam ra Bắc,... Thắng lợi của ta cũng chính là thất bại của chủ nghĩa thực dân xâm lược muốn nô dịch nhân dân Đông Dương; thất bại của đế quốc Mỹ đang âm mưu biến Đông Dương thành thuộc địa và căn cứ chiến lược của Mỹ, thất bại của bọn tay sai đế quốc Mỹ và thực dân hiếu chiến Pháp, can tâm bán nước cho kẻ địch bên ngoài” [1, tr.233]. Với những quyết định của Hội nghị Giơnevơ, miền Bắc được giải phóng, nhân dân ta bắt tay ngay vào xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa và trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam. Thắng lợi đó của Việt Nam góp phần cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Giá trị lịch sử to lớn của Hội nghị Giơnevơ vẫn còn nguyên vẹn cùng với những bài học kinh nghiệm quý báu đối với công tác đối ngoại hôm nay. Đó là bài học về giữ vững và phát huy tinh thần độc lập, tự chủ trong đàm phán ngoại giao; bài học về sự quán triệt sâu sắc quan điểm nhân nhượng có nguyên tắc; bài học về sự kết hợp sức mạnh tổng hợp giữa đấu tranh chính trị - quân sự - ngoại giao; bài học về tăng cường sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,… Đó không những là kết quả của một đường lối cách mạng đúng đắn (đường lối kháng chiến, đường lối đối ngoại) dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà đó còn là minh chứng hùng hồn của chính sách đại đoàn kết Hồ Chí Minh (đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết trong Đảng). Trong lịch sử thế giới, hiếm có một cuộc đấu tranh nào như cuộc kháng chiến của chúng ta, luôn đón nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo nhân dân Pháp, nhân dân và các nước yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới. Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 28 (tháng 12/2013), cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã căn dặn: Trong điều kiện mới, ngành ngoại giao Việt Nam phải “tiếp tục đóng vai trò đi đầu trong việc bảo đảm môi trường hòa bình thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và các nhiệm vụ chiến lược về phát triển kinh tế -xã hội... Trong thời chiến, người lính phải đi đầu trong chiến tranh, bảo vệ đất nước. Trong thời bình, cán bộ ngoại giao phải đi đầu trong kiến tạo hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và thu hút nguồn lực cho phát triển đất nước”. Một nền ngoại giao mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam - một “trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh”, “thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam” [6, tr18]. Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, can trường trước mọi khó khăn, thử thách, vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc” [8, tr18-tr19].
Tiếp nối thành quả to lớn của hơn 80 năm trưởng thành cùng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác đối ngoại được nâng tầm và đạt nhiều kết quả nổi bật. Đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20). Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức nhân dân cũng đã triển khai đối ngoại thiết thực với 1.200 tổ chức nhân dân và đối tác nước ngoài. Nhằm đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng toàn diện, hiệu quả, Đại hội XIV nhấn mạnh: “chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới” [2, tr117], “đẩy mạnh ngoại giao toàn diện phục vụ phát triển, trọng tâm là ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ. Nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hoá, quốc phòng, an ninh; rà soát, đôn đóc triển khai thực hiện có hiệu quả các cam kết, thoả thuận quốc tế; chú trọng các hoạt động quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam” [2, tr119],
Phát huy các bài học của Hiệp định Giơnevơ và truyền thống vẻ vang của ngoại giao cách mạng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm xây dựng nền ngoại giao vững mạnh, toàn diện, hiện đại, đóng góp xứng đáng quá trình thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Vận dụng một cách sáng tạo, chủ động, linh hoạt, nhạy bén các bài học quý giá đó trong thực tiễn công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tác phẩm sưu tầm
Nguồn:
ThS Ngô Thị Thuý Mai, Khoa Xây dựng Đảng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr. 233.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, H.2026.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000. tr.168
[4] Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011, tr.1.
[5] Lưu Văn Lợi, Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995, Nxb Công an nhân dân, H.1996, tr. 173.
[6] Nguyễn Phú Trọng, “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 980, tháng 12-2021, tr.18
[7] Nguyễn Phú Trọng, “Tiếp tục đổi mới, xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, vững mạnh toàn diện, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 1028, tháng 12-2023, tr.9
[8] Nguyễn Phú Trọng, “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2023, tr. 18-19.



