Bài viết

Phó bảng Hoàng Tăng Bí - Nhà yêu nước nhiệt thành, vị túc nho uyên thâm

Hà Nội27/09/2026Đoàn Xã A Lưới 2 (Đoàn xã A Lưới 2)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phó bảng Hoàng Tăng Bí (1883–1939) sinh ra tại làng Đông Ngạc, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, nay thuộc phường Đông Ngạc, thành phố Hà Nội. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng có truyền thống yêu nước và hiếu học. Từ cụ tổ Hoàng Nguyễn Thự, người từng đỗ Tiến sĩ khoa thi cuối cùng của triều Lê, đến Hoàng Tế Mỹ, Hoàng Tướng Hiệp, nhiều thế hệ trong dòng họ Hoàng đã để lại dấu ấn trên con đường khoa cử và phụng sự đất nước. Lớn lên trong một môi trường giàu truyền thống như vậy, Hoàng Tăng Bí sớm hình thành ý thức về trách nhiệm của người trí thức trước vận mệnh dân tộc. Năm 1906, ông đỗ Cử nhân, đúng vào thời điểm tư tưởng canh tân từ Trung Quốc và Nhật Bản đang tác động mạnh mẽ đến tầng lớp sĩ phu Việt Nam. Những tân thư của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu cùng phong trào duy tân đã thôi thúc ông tìm một con đường mới để góp phần chấn hưng đất nước.

Đầu năm 1907, khi Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập tại số 4 Hàng Đào, Hoàng Tăng Bí trở thành một trong những nhân vật tích cực tham gia hoạt động của trường. Ông vừa thuộc Ban giáo dục, dạy Hán văn, vừa tham gia Ban cổ động, trực tiếp truyền bá tư tưởng duy tân. Không chỉ dạy học, ông còn đi diễn thuyết, vận động người dân coi trọng học vấn, phát triển thực nghiệp, mở mang công thương và xây dựng một nền kinh tế dựa trên chữ tín. Đông Kinh Nghĩa Thục chủ trương dạy chữ quốc ngữ, mở mang dân trí và tổ chức các lớp học không thu học phí; những hoạt động ấy nhanh chóng lan rộng ra nhiều địa phương. Để góp phần duy trì hoạt động của trường và làm gương về tinh thần thực nghiệp, Hoàng Tăng Bí còn mở Công ty Đông Thành Xương tại phố Hàng Gai, kinh doanh hàng nội địa và tổ chức sản xuất một số mặt hàng. Hình ảnh một nhà nho từ bỏ lối sống khép kín để trực tiếp bước vào hoạt động giáo dục, diễn thuyết và kinh doanh cho thấy tinh thần canh tân mạnh mẽ của ông: muốn cứu nước không chỉ bằng lời nói mà còn phải bắt đầu từ việc nâng cao dân trí và làm cho đời sống kinh tế của người dân phát triển.

Hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào yêu nước khiến chính quyền thực dân Pháp tìm cách đàn áp. Tháng 10/1908, Hoàng Tăng Bí bị kết án 5 năm khổ sai và đưa đi Côn Đảo; nhờ sự can thiệp của nhạc phụ là Thượng thư Cao Xuân Dục, sau một năm ở Hỏa Lò, ông được đưa về Huế quản thúc trong thời hạn 15 năm. Những năm tháng bị hạn chế tự do không làm ông từ bỏ việc học và hoạt động văn hóa. Trái lại, ông biến quãng đời quản thúc thành thời gian tiếp tục dùi mài kinh sử và sáng tác. Năm 1910, ông đỗ Phó bảng. Trong thời gian ở Huế, ông viết nhiều tác phẩm tuồng như Hoa Tiên ký, Nghĩa nặng tình sâu và Thù chồng nợ tước, mượn những câu chuyện lịch sử để gửi gắm tâm sự về đất nước và con người. Đằng sau những tác phẩm mang màu sắc cổ điển ấy là nỗi niềm của một nhà nho yêu nước đang phải sống xa quê hương và chứng kiến vận mệnh dân tộc trong cảnh mất nước.

Năm 1929, sau 15 năm quản thúc ở Huế, Hoàng Tăng Bí trở về Hà Nội và tiếp tục con đường giáo dục, văn hóa. Ông từng dạy Việt văn ở trường Gia Long nhưng bị chính quyền thực dân ngăn cấm vì họ đã biết rõ hoạt động và tư tưởng của ông. Sau đó, ông cộng tác với báo Trung Bắc tân văn, viết nhiều bài về đạo đức, nhân cách và trách nhiệm của người cầm bút trong thời đại Âu hóa. Ông cũng dịch một số tác phẩm văn học Pháp và nghiên cứu, biên soạn cuốn Lược khảo Lịch sử Trung Quốc dưới bút danh Tiểu Mai, với mong muốn giúp người Việt nhìn vào những thành bại của lịch sử nước khác để suy ngẫm về con đường cứu nước của mình. Điều đáng quý là tinh thần yêu nước của ông không chỉ dừng lại ở bản thân mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến thế hệ sau, đặc biệt là người con Hoàng Minh Giám. Khi Hoàng Minh Giám cùng các trí thức như Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh, Đặng Thai Mai tham gia xây dựng trường tư thục Thăng Long năm 1935, tư tưởng Đông Kinh Nghĩa Thục tiếp tục được kế thừa trong một hoàn cảnh mới, góp phần đào tạo nhiều học sinh yêu nước.

Cuộc đời Hoàng Tăng Bí vì thế gắn liền với một giai đoạn đặc biệt của lịch sử Việt Nam, khi tầng lớp sĩ phu đứng trước yêu cầu phải thay đổi cách nghĩ và cách hành động để tìm con đường chấn hưng đất nước. Từ một nhà nho xuất thân trong gia đình khoa bảng, ông đã bước ra khỏi khuôn mẫu cũ để tham gia giáo dục, diễn thuyết, kinh doanh, sáng tác và hoạt động báo chí; dù bị bắt, tù đày và quản thúc trong nhiều năm, ông vẫn tiếp tục học tập và cống hiến trong lĩnh vực văn hóa. Ông qua đời năm 1939, để lại một di sản tinh thần được tiếp nối qua các thế hệ con cháu và những người từng chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của ông. Ngày nay, tên Hoàng Tăng Bí được đặt cho một tuyến phố ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, như một sự ghi nhận đối với một sĩ phu, nhà văn hóa đã dành phần lớn cuộc đời cho lý tưởng nâng cao dân trí, chấn hưng thực nghiệp và góp phần tìm đường cứu nước trong buổi giao thời.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn