Anh hùng Lực lượng vũ trang

Hồ Học Lãm (1884 – 1943) (P1)

Lào Cai13/10/2026Đoàn phường Phước Long (Phường Phước Long)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

      Hồ Học Lãm, còn có tên là Hồ Xuân Lan, sanh năm 1884, tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, trong  một gia đình có truyền thống yêu nước và hiếu học. Ông là cháu gọi Án sát Hồ Bá Ôn bằng bác ruột, liệt sĩ chống Pháp giữ thành Nam Định và hy sinh năm 1883, gọi liệt sĩ Hồ Bá Kiện (con của Hồ Bá Ôn) bằng anh, người chiến sĩ cách mạng hy sinh tại nhà tù Lao Bảo năm 1915.

        Cha ông là Hồ Bá Trị (em ruột Hồ Bá Ôn), một nghĩa binh tham gia tích cực phong trào Cần Vương ở địa phương và tử nạn trong trận chiến đấu với bọn thực dân xâm lược tại quê nhà ngày 24–12–1885.

        Mẹ của Hồ Học Lãm là Trần Thị Trâm, thường gọi là “Bà Lụa”, bởi vì bà thường đóng vai người buôn bán lụa để làm “liên lạc” cho nghĩa quân Phan Đình Phùng, sau đó lại tích cực tham gia các công tác của Duy Tân hội, vận động thanh niên Đông Du… rồi Việt Nam Quang phục hội và các phong trào yêu nước khác cho đến năm bà già yếu.

        Hồ Học Lãm sinh trưởng trong môi trường “gia đình và quê hương cách mạng”, sớm giác ngộ tư tưởng yêu nước, căm thù giặc, nên đến năm 1906, ông đã được chọn là một trong số thanh niên ưu tú của xứ Nghệ, xuất dương du học tại Nhật Bản, do chính Phan Bội Châu, lãnh tụ của Duy Tân hội trực tiếp lãnh đạo.

        Bấy giờ, Phan Bội Châu đã đề ra tiêu chuẩn của du học sinh: “Chọn trong đám con em trẻ tuổi, những người thông minh, có chí, lại chịu được lao khổ…” và Hồ Học Lãm đã đạt được những tiêu chuẩn đó. Ông được bố trí vào học tại trường quân sự Chấn Võ học hiệu (Shimbu Gakko-Tokyo) để được đào tạo thành “chiến sĩ của cuộc đấu tranh chống Pháp giành độc lập cho dân tộc”. Ông chọn một cái tên mới: Hồ Hinh Sơn để đăng ký quân tịch. “Hinh Sơn”, chính là tên một ngọn núi ở phía Tây làng Quỳnh, hình như cái bảng, được gọi là “Giáp bảng”, bảng ghi danh những người có công trạng lớn, đỗ đạt cao.

        Trường Chấn Võ vốn là một trường Quân sự, được lập ra để thu nạp học sinn người Trung Quốc (theo thỏa thuận giữa hai nước Nhật – Trung), đào tạo sĩ quan cho Trung Quốc. Học viên đều mang “quốc tịch Trung Hoa”. Nhờ sự khéo léo thương thảo của Phan Bội Châu, nên “Chấn Võ học hiệu” có thu nhận một số “Lưu học sinh Việt Nam” (mang quốc tịch Thanh Quốc), trong đó có Hồ Hinh Sơn.

        Tại đây, Hồ Hinh Sơn và các đồng học chịu sự huấn luyện đào tạo khá quy củ, được biên chế vào các ban ngành chuyên môn để học tập. Buổi sáng, học văn hóa gồm ngôn ngữ, văn học, toán, lý, hóa, sử, địa… tu thân, luân lý v.v… tất cả đều dạy bẳng tiếng Nhật. Buổi chiều học tập tri thức quân sự, mà chú ý nhất là luyện tập ở thao trường. Việc giảng dạy các khóa trình đều do ngươi Nhật thực hiện.

        Cũng tại đây, Phan Bội Châu còn tổ chức ra “Việt Nam Công hiến hội” để quản lý các mặt học tập (tự tu) hoạt động (văn nghệ, chính trị), sinh hoạt khác của gần 200 lưu học sinh trên đất Nhật lúc bấy giờ. Có thể nói, “Công hiến hội” đã đóng vai trò “người tổ chức” hỗ trợ rất đắc lực, rất hữu hiệu đối với mọi hoạt động của phong trào Đông Du. Theo như sau này Phan Bội Châu kể lại trong “tập tự truyện Phan Bội Châu niên biểu”. Hội đã góp phần tích cực đào tạo được một số cán bộ cách mạng mới, có nhiệt tình yêu nước, có phẩm chất cao. Phan Bội Châu đã trân trọng ghi lại nhiều gương mặt sáng giá như: Đặng Tử Mẫu, Hồng Đình Tuân, Lương Lập Nham, Hoàng Trọng Mậu… và cả Hồ Hinh Sơn (tức Hồ Học Lãm) nữa.

        Hồ Hinh Sơn chưa kịp mãn khóa tốt nghiệp tại Chấn Võ học hiệu, thì đầu năm 1909 phong trào Đông Du bị chính phủ Nhật (do sự thỏa thuận với thực dân Pháp) giải tán, trục xuất. Ông lại theo Phan Bội Châu về Trung Quốc.

        Đoàn học sinh “Đông du” bị giải tán, một số lớn về lại nguyên quán Nam Kỳ, số ít hơn “lưu lạc” qua Trung Quốc. Sau một thời gian ngắn, số anh em quê ở Bắc về Trung Kỳ, nhất là quê Nghệ Tĩnh, lại được Phan Bội Châu thu xếp để được vào học tiếp ở các trường Quân sự của Trung Quốc, như  Trường Quảng Tây Lục quân cán bộ học trường có: Trần Hữu Lực, Nguyễn Tiếu Đẩu, Nguyễn Thái Bạt; Trường Bắc Kinh quân nhu học hiệu có: Lưu Khải Hồng, Nguyễn Yến Chiêu; Trường Bảo Định sĩ quan học hiệu có Lương Lập Nham, Lâm Quảng Trung, Hồ Hinh Sơn (tức Hồ Học Lãm) v.v… các trường này đều đào tạo sĩ quan cách mạng Trung Quốc cho Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn.

        Học tại đây, được vài năm thì cách mạng Tân Hợi (1911) nổ ra, cũng vừa lúc Hồ Hinh Sơn (tức Hồ Học Lãm) tốt nghiệp mãn khóa. Ông được biên chế về Bộ Tổng tham mưu quân cách mạng của lãnh tụ Tôn Trung Sơn do Tưởng Giới Thạch làm Ủy viên Tổng tài. Sau này có tên là Tưởng Ủy viên trưởng. Hồ Học Lãm, từ nay đã có một cương vị là sĩ quan, lại là người thân cận của các sĩ quan cấp cao nhất của “Chính phủ Trung Hoa Dân quốc”, ông sẽ có điều kiện phát huy “lợi thế” của mình để tích cực giúp đỡ cho cách mạng Việt Nam.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn