Hồ Học Lãm (1884 – 1943) (P3)
Rất nhiều “luận văn” có ý nghĩa tổng kết Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đánh giá quân lực cách mạng Trung Quốc, phép dùng binh của các nước phương Đông… cùng là những vấn đề về binh khí, súng máy, súng trường, đại bác, đạn dược… kể cả các vấn đề quân phòng, quân kỷ, quân chế, lương hướng, phiên hiệu v.v… đều được Hồ Học Lãm khảo sát, đúc rút, nhận xét, kết luận nêu ra nhiều ý kiến xác đáng như một nhà “lý luận quân sự” thông thạo cả về chiến lược, chiến thuật quân sự của thời bấy giờ. Rất tiếc, chúng tôi không có điều kiện đọc kỹ, nghiên cứu sâu vào các vấn đề của lĩnh vực quân sự này để có thể đưa ra một nhận định đánh giá thỏa đáng về nhân vật khả kính này (xem thêm các bài dịch trong Tạp chí lịch sử quân sự VN).
Mặt khác, thông qua một số bài thơ “thuật hoài”, “cảm tác”, “luận về đạo đức của người ái quốc, của quân nhân cách mạng” đăng rải rác trong các chuyên mục “Văn tuyển”, “Biệt lục” của tờ Binh sự tạp chí trong hơn 10 năm, từ 1914 – 1926, cũng thấy được tư tưởng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, tấm lòng “vì dân, vì nước” của Hồ Học Lãm khá là cảm động, tạm dịch là “Nằm gai nếm mật, hùng dũng vượt ra ngoài biên giới nước Việt; Mười năm qua ngày càng thêm nhớ lời giáo huấn; Nêu cao uy danh (Tổ Quốc) hợp với hướng hoạt động hải ngoại; Há chăng có ngày đạp đổ bọn Vua chúa bạo tàn ư !” ([1]). Chẳng hạn trong bài Luận quân nhân chí ái quốc tâm (Bàn về lòng yêu nước của người quân nhân) đăng ở số báo 27, ông viết về người lính quân đội cách mạng Trung Quốc, mà vẫn có những câu nhắc nhở các bạn đồng hương đang phải sống tha hương, rằng: “Việt điểu sào ham chi, Hồ mã tê bắc phong” v.v… Hoặc trong bài Luận quốc gia nội loạn chi nguyên nhân (bàn về nguyên nhân nội loạn của nước nhà), ông viết: “Ta hồ! Âu phong Mỹ vũ tương bức nhi lai. Quốc khốn dân cùng chí thử dĩ cực !”…
Hoặc bài Quân nhân kim nhật chi khả ưu thuyết (Nói về sự đáng buồn của những người lính hôm nay), có câu: “Ta! Ngã đồng bào! Thiên hạ hưng vong, thất thu hữu trách. Ngã đồng bào khởi khả cẩn nhật thâu an tai!”…
Rõ là giọng văn tuyên truyền cổ động lòng yêu nước hệt như thơ văn yêu nước của cụ Phan Bội Châu. Chẳng trách mà Phan Bội Châu tỏ ra rất yêu quý, kỳ vọng ở người đồng chí trẻ tuổi này. Cho nên, chẳng bao lâu sau, khi từ “cơ sở cách mạng Bạn Thâm, Đông Bắc nước Xiêm”, do Đặng Thúc Hứa giới thiệu người thiếu nữ con gái yêu của nhà cần vương Ngô Quảng là cô Ngô Thị Khôn Duy qua Trung Quốc học tập, đã đến tại “cơ sở Hàng Châu” này, thì cụ Phan Bội Châu lại là người “mai mối” để tác thành cặp uyên ương “Hồ Học Lãm – Ngô Khôn Duy” thành đôi vợ chồng thật xứng hợp. Họ vừa là vợ chồng, vừa là đồng chí thấm thiết bên nhau vì sự nghiệp của dân của nước, của cách mạng Việt Nam cho tận lúc mãn chiều xế bóng và cùng để lại cho đời tấm gương trong mà mọi người Việt Nam yêu nước có thể soi vào.


