Hồ Học Lãm (1884 – 1943) (P4)
Hồ Học Lãm tuy là “sĩ quan” của quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc, nhưng ông và gia đình ông ở Hàng Châu là một “cơ sở cách mạng” rất quan trọng của các nhà chí sĩ Việt Nam lưu vong mà đứng đầu là Phan Bội Châu. Chính từ “cơ sở” này mà Phan Bội Châu đã cùng với Hồ Học Lãm vực dậy phong trào cách mạng Việt Nam tại Trung Quốc từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Những người Việt Nam yêu nước đã hội tụ về Hàng Châu. Lớp lớp thanh niên Việt Nam, sau chiến tranh 1914 – 1918 xuất dương sang Trung Quốc tìm đường cứu nước cũng đã dừng chân tại địa điểm, tại một cơ sở an toàn như “có bảo hiểm” này của Hồ Học Lãm. Vì Hồ Học Lãm có uy tín với cách mạng Trung Quốc, với các tướng lĩnh Trung Quốc… họ có thể che chở cho Việt Nam.
Đáng chú ý là từ những năm 1919, 1920 có mấy chục thanh niên Việt Nam, lần lượt đến Hàng Châu với Phan Bội Châu. Trong đó có Hồ Bá Cự tức Hồ Tùng Mậu sau này là người cháu gọi Hồ Học Lãm bằng chú, đã đến đây rồi được gia đình ông nuôi dưỡng, chu cấp, tạo điều kiện cho học tập tại các trường văn hóa và ngoại ngữ đến “thành tài”, đặc biệt Hồ Tùng Mậu đã được các chí sĩ lớp trước nhất là Phan Bội Châu, Hồ Học Lãm… góp phần tác thành cho cả về nhân cách, về tư tưởng, về đường lối cứu nước. Đến mùa hè 1923, Hồ Tùng Mậu đã cùng với 6 bạn thanh niên khác cùng chí hướng (vốn sinh sống học tập tại Hàng Châu) là Lê Văn Phan (tức Lê Hồng Sơn), Nguyễn Giảng Thanh, Đặng Xung Hồng (tức Đặng Hữu Bằng hoặc Đặng Đoàn Bằng), Trương Quốc Uy, Lê Cầu (tức Tống Giáo Cầu) và Nguyễn Công Viễn (tức Lâm Đức Thụ) cùng nhau “sáng lập” ra Tâm Tâm Xã (cũng có tên là Tân Việt thanh niên đoàn).
Hồ Tùng Mậu đã đi bước đi đầu tiên trong thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa từ vòng tay của các chí sĩ tiền bối, sau đó được sự dìu dắt, cộng tác và lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc và trưởng thành nên một trong số các vị lãnh đạo của Đảng ta. Sự nghiệp của người chiến sĩ cách mạng của người cộng sản kiên cường, bất khuất là Hồ Tùng Mậu… rõ ràng là được thụ hưởng rất nhiều ở truyền thống quê hương, dòng tộc, của các bậc cha chú gần gũi, mà trong đó có vai trò của Hồ Học Lãm, từ những ngày Hồ Tùng Mậu mới đến Trung Quốc, năm 1920, 1923, 1924 v.v…
Cùng với Hồ Tùng Mậu và các thanh niên Việt Nam yêu nước khác bấy giờ cũng được Hồ Học Lãm tận tình giúp đỡ như vậy. Về sau, từ những năm 1925 trở đi, khi Trường “Quân quan học hiệu” tức Trường Quân sự Hoàng Phổ mở tại Quảng Châu, có nhiều thanh niên Việt Nam được chọn vào học như Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Lê Quảng Đạt… và các thanh niên lớp sau nữa đều nhiều ít có sự giới thiệu giúp đỡ hoặc trực tiếp can thiệp của Hồ Học Lãm. Vì ở đấy từ các vị Giám học, Hiệu trưởng, Giáo sư như Tưởng Trung Chánh (TGT), Lý Tế Thâm, .v.v… đều có quan hệ tốt với Hồ Học Lãm từ nhiều năm trước.
Từ cuối năm 1920, Hồ Học Lãm thuyên chuyển công tác đến Nam Kinh và tiếp tục hoạt động trong quân ngũ Quốc dân đảng Trung Quốc đến tận 1937. Ở đây, với tư cách là một sĩ quan cao cấp, hơn thế nữa vẫn là “một nhà yêu nước nhiệt thành”, tính tình trầm mặc, tác phong cẩn trọng… ông và gia đình ông vẫn là “một cơ sở cách mạng” rất tin cậy của các nhà yêu nước, của các chiến sĩ cộng sản Việt Nam hoạt động ở Trung Quốc. Gia đình ông, như nhiều người đã viết và như nhiều tài liệu đã ghi nhận:
“Có thể nói trong nhiều năm, ngôi nhà của ông Hồ Học Lãm ở Nam Kinh”, theo cách nói của anh em ta lúc bấy giờ “ hệt như một trạm đón tiếp nồng hậu, một trạm xá tận tình chữa bệnh, an dưỡng cho cán bộ (cách mạnh) lúc ốm đau, bệnh tật. Lúc ít cũng hai, ba đồng chí; lúc đông tới mươi, mười lần người. Có đồng chí dừng chân vài ba ngày. Nhưng cũng có đồng chí, một hai ba tháng. Ngoài ăn uống, thuốc men, đồng chí nào sức yếu, mùa đông lạnh còn có cả áo “ba đờ xuy” bằng len dạ. Ông bà coi như một nghĩa vụ của mình đối với cách mạng”


