Bài viết

HỒ NGHINH - MỘT THỜI HOA LỬA, MỘT ĐỜI VÌ DÂN VÌ NƯỚC

Bài viết khắc họa chân dung đồng chí Hồ Nghinh – người cộng sản kiên trung, trọn đời vì dân tộc, gắn bó sâu nặng với những năm tháng chiến tranh ác liệt và công cuộc dựng xây quê hương sau ngày đất nước hòa bình. Từ chiến trường Quảng Đà khói lửa đến những quyết sách lớn bảo vệ di sản Mỹ Sơn, Hội An và xây dựng hồ thủy lợi Phú Ninh, cuộc đời ông là biểu tượng của tầm nhìn, bản lĩnh và lòng yêu nước bền bỉ. Tên tuổi Hồ Nghinh mãi là ngọn lửa truyền cảm hứng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Đà Nẵng01/01/2026XA DOÃN HỒNG VŨ (CHi đoàn TRƯỜNG THCS HỒ NGHINH - Phường Hòa Cường)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

HỒ NGHINH - MỘT ĐỜI VÌ DÂN TỘC

Trong dòng chảy lặng lẽ mà bền bỉ của lịch sử dân tộc, có những con người như những dòng suối ngầm – âm thầm chảy dưới lòng đất, nhưng nuôi dưỡng cả một vùng quê hương. Họ không cần danh xưng hào nhoáng, không chọn ánh đèn sân khấu, chỉ để lại dấu ấn bằng sự tận hiến trọn đời cho nhân dân, cho Tổ quốc. Đồng chí Hồ Nghinh là một con người như thế.

Đồng chí Hồ Nghinh, tên thật là Hồ Hữu Phước, sinh ra tại xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, mảnh đất giàu truyền thống cách mạng. Mới 17 tuổi, ông đã sớm dấn thân vào con đường cách mạng với niềm tin son sắt vào Đảng và khát vọng giải phóng quê hương. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được giao trọng trách Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Duy Xuyên, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng tại địa phương trong những ngày đầu đầy gian khó.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tên tuổi Hồ Nghinh gắn liền với những chiến trường ác liệt của xứ Quảng: từ Gò Hà, La Thọ, Xuyên Thanh, Đồng Dương cho đến Núi Thành - nơi ghi dấu chiến thắng mở đầu cao trào “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Ở đâu có gian nguy, ở đó có dấu chân ông. Không chỉ là người chỉ huy trên bản đồ tác chiến, ông là người “bám thắt lưng địch mà đánh”, sống giữa dân, cùng ăn, cùng ở, cùng chịu bom đạn với đồng đội.

Tháng 10 năm 1967, khi được cử làm Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà, Hồ Nghinh đã đưa ra những quyết sách mang tính sáng tạo và linh hoạt: ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, ba thứ quân, tạo nên thế trận liên hoàn, góp phần làm nên nhiều chiến công vang dội, làm rung chuyển ý chí xâm lược của kẻ thù.

Một trong những quyết định táo bạo nhất của ông được nhắc lại trong sách, đó là việc rời căn cứ hang đá ở núi Hòn Tàu, đưa cơ quan Đặc khu ủy cơ động về tam giác đồng bằng Điện Xuân - Điện Quang – Điện Thái. Giữa lúc bom đạn trút xuống không ngơi, nhiều người lo ngại việc xuống đồng bằng sẽ khó tránh khỏi càn quét ác liệt. Nhưng Hồ Nghinh đã nói một câu trở thành triết lý hành động của cả một thời: “Thằng Mỹ muốn đẩy ta xa thành phố, thì ta phải xuống gần hơn. Ở đồng bằng tuy ác liệt, nhưng gần dân, có gạo, có mắm, có rau xanh. Bám dân mới giữ được đất.”

Ông chọn gian nguy thay vì an toàn, chọn bám dân thay vì lánh xa. Nhờ vậy, phong trào cách mạng ở đồng bằng Quảng Nam được giữ vững, tạo thế và lực cho những chiến thắng quan trọng sau này. Ngay cả khi bị địch truy nã gắt gao sau Tết Mậu Thân, bom đạn và chất độc hóa học trút xuống Hòn Tàu, ông vẫn âm thầm bám trụ ở Gò Nổi, ngày ngày dõi theo từng chuyển động của nhân dân, của chiến trường bên dòng Thu Bồn đỏ nặng phù sa.

Hòa bình lập lại, người chiến sĩ năm xưa lại bước vào một mặt trận mới - mặt trận kiến thiết. Với cương vị lãnh đạo tỉnh, Hồ Nghinh để lại dấu ấn sâu đậm bằng tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm vì cuộc sống lâu dài của nhân dân. Giữa lúc Quảng Nam (địa danh cũ) còn nghèo khó, hậu quả chiến tranh nặng nề, ông là người kiên quyết chỉ đạo xây dựng hồ thủy lợi Phú Ninh - công trình mang tầm vóc chiến lược cho nông nghiệp xứ Quảng. Trước không ít hoài nghi, ông khẳng định dứt khoát: “Người dân không thể chờ được nữa. Muốn no ấm, phải bắt đầu từ thủy lợi.” Khi công trình hoàn thành, dòng nước Phú Ninh không chỉ tưới mát ruộng đồng, mà còn trở thành biểu tượng của niềm tin vào một tương lai hồi sinh từ gian khó.

Không dừng lại ở phát triển kinh tế, Hồ Nghinh còn là người có tầm nhìn sâu sắc về văn hóa và di sản. Khi có ý kiến đề xuất xây đập Khe Thẻ, chấp nhận để di tích Mỹ Sơn chìm dưới lòng hồ, ông đã kiên quyết bác bỏ: “Một ngọn tháp Chămpa mất đi là cả ngàn năm lịch sử bị xóa. Đừng để con cháu sau này hỏi: Vì sao các ông không giữ điều đáng giữ?” Nhờ quyết định ấy, Mỹ Sơn được bảo tồn trọn vẹn, để hôm nay trở thành Di sản Văn hóa Thế giới, niềm tự hào của Việt Nam.

Năm 1976, trước làn sóng đòi phá bỏ đình chùa, miếu mạo tại phố cổ Hội An với danh nghĩa “xóa bỏ tàn dư phong kiến”, chính Hồ Nghinh đã kịp thời ngăn lại. Ông nhắc đến sắc lệnh bảo tồn di tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phân tích giá trị lâu dài của phố cổ trong tương lai. Ông nhìn xa hơn thời cuộc, để giữ lại một Hội An nguyên vẹn, và hôm nay trở thành điểm đến văn hóa của cả thế giới.

Với những cống hiến to lớn ấy, cụ Hồ Nghinh đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, đặc biệt là Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng di sản lớn nhất ông để lại không chỉ là huân chương hay công trình, mà là ngọn lửa của niềm tin, trách nhiệm và tình yêu sâu nặng với nhân dân, với quê hương. Tháp Mỹ Sơn vẫn đứng vững giữa đại ngàn. Phố cổ Hội An vẫn rực rỡ đèn lồng trong đêm. Dòng nước Phú Ninh vẫn âm thầm chảy qua cánh đồng xứ Quảng. Và tên tuổi Hồ Nghinh - một thời hoa lửa, một đời vì dân vì nước - vẫn sáng mãi trong lòng hậu thế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
HỒ NGHINH - MỘT THỜI HOA LỬA, MỘT ĐỜI VÌ DÂN VÌ NƯỚC | Câu chuyện thời hoa lửa