HỒ SOI- Người chiến sĩ vận tải Pa Cô trên tuyến Trường Sơn
Họ và tên: Hồ Soi. Năm sinh: 1943. Dân tộc: Pa Cô. Quê quán: xã Kỳ Nơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Bình; địa danh hiện nay theo nguồn là xã A Dơi, tỉnh Quảng Trị. Tham gia cách mạng: năm 1959, khi 16 tuổi. Đơn vị và nhiệm vụ tiêu biểu: Đoàn 559; vận tải, bảo vệ kho và tuyến đường ở miền tây Trị Thiên – A Lưới. Chức vụ khi được tuyên dương: Đại đội trưởng Đại đội 4 vận tải, Cục Hậu cần Quân khu Trị Thiên. Danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân giải phóng: ngày 19/05/1972.
Tuyến vận tải Trường Sơn đi qua vùng núi phía tây Trị Thiên có địa hình dốc, rừng rậm, sông suối và thường xuyên bị máy bay đánh phá. Khi phương tiện cơ giới chưa thể hoạt động rộng rãi, hàng hóa được vận chuyển bằng gùi và xe đạp. Các đơn vị vận tải còn phải bảo vệ kho, mở đường, chống các cuộc càn quét và giữ bí mật tuyến hành lang. Hiệu quả không chỉ phụ thuộc sức khỏe cá nhân mà còn vào cách tổ chức cung trạm, phân phối tải trọng và bảo vệ đội hình.
Hồ Soi tham gia cách mạng năm 1959 và phục vụ tại Đoàn 559. Từ năm 1962 đến 1965, ông gùi hàng ở miền tây Trị Thiên và A Lưới. Nguồn ghi nhận ông cải thiện khối lượng vận chuyển từ khoảng 30kg lên tới 80kg mỗi chuyến. Trong giai đoạn 1966–1967, ông sử dụng xe đạp thồ, có chuyến vận chuyển khoảng 150kg. Những con số này phản ánh quá trình rèn luyện kỹ thuật buộc hàng, giữ thăng bằng và phân bố sức lực trên đường núi.
Năm 1968, ông vừa tổ chức vận tải vừa chỉ huy hơn hai mươi trận chiến đấu để bảo vệ kho và mở đường. Nguồn ghi nhận đơn vị đã tiêu diệt 470 quân đối phương, bắn rơi 15 máy bay; cá nhân Hồ Soi được ghi nhận tiêu diệt 35 quân đối phương. Ngày 19/05/1972, ông được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. Sau chiến tranh, ông tiếp tục công tác trong quân đội và nghỉ hưu với cấp bậc Trung tá.
Điểm tiêu biểu trong câu chuyện Hồ Soi là sự kết hợp giữa lao động vận tải và chiến đấu. Năm 1968, khối lượng gùi trung bình của đơn vị khoảng 40kg, trong khi ông thường đảm nhận khoảng 60kg. Tuy vậy, ông không chỉ thi đua bằng sức mang; trên cương vị chỉ huy, ông phải bố trí đường đi, bảo vệ kho, tổ chức ứng phó khi tuyến bị phát hiện và bảo đảm người, hàng tới đúng nơi.
Trong các đợt chiến đấu Mậu Thân 1968, ông cùng đơn vị vừa giữ tuyến vừa đánh trả các lực lượng tiến công. Thành tích của ông cho thấy hậu cần chiến trường không phải công việc đứng ngoài trận đánh. Người vận tải có thể phải chuyển ngay từ tư thế gùi hàng sang bảo vệ kho, cứu đồng đội hoặc mở đường. Danh hiệu năm 1972 ghi nhận một quá trình lâu dài, trong đó sức bền, kỹ năng tổ chức và ý chí chiến đấu gắn chặt với nhau.


