Hoa lửa (102)
câu chuyện hoa lửa
Ngày 6-9-1971, khi có lệnh Tổng động viên, tôi khi đó đang là sinh viên năm thứ 2 Trường Đại học Y Hà Nội đã “xếp bút nghiên lên đường chiến đấu” như bao sinh viên miền Bắc.
Thời gian chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị trong ký ức của tôi là chuỗi ngày “mưa bom, bão đạn” ác liệt. Khi đơn vị vượt sông Thạch Hãn vào Thành cổ, giữa mưa lớn, nước sông dâng cao và làn bom đạn dày đặc, rất nhiều người đã ngã xuống, trong đó Tiểu đoàn trưởng của chúng tôi hy sinh đầu tiên. Ngoài những trận ném bom B-52, địch còn sử dụng máy bay trinh sát OV-10 chỉ điểm rất chính xác cho pháo binh từ biển bắn vào. Vì thế, chúng tôi luôn phải ở trong trạng thái cảnh giác cao độ, bất kể ngày hay đêm.
Có những thời điểm, khi Đại đội trưởng và Đại đội phó đều bị thương, từ một y tá, tôi buộc phải cầm súng, thay mặt đại đội trực tiếp chỉ huy anh em chiến đấu. Ngày ấy, thế hệ sinh viên chúng tôi vừa vô tư, mơ mộng, vừa mang trong mình lý tưởng lớn, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước. Trong sâu thẳm, ai cũng mong một ngày được trở về giảng đường đại học. Vì vậy, dù quân số ta và địch có sự chênh lệch lớn, chúng tôi vẫn cứ thế tiến lên.
Tôi nhớ nhất là hôm đánh chiếm nhà thờ Tri Bưu, mấy anh em đi cùng nhau có đến 5 người cùng bị trúng bom, chỉ cách hầm chỗ tôi nằm khoảng 6 - 7m. Nghe tiếng rên rỉ đau đớn của đồng đội, tôi tìm cách bò sang tiêm thuốc, cấp cứu rồi đưa họ ra bờ sông để vận chuyển sang bờ Bắc. Chiến tranh là vậy, có khi đêm trước vừa bổ sung quân, hôm sau đã phải thay một loạt khác.
Một đêm khác, khi đi tìm hố đạn lấy nước, tôi phát hiện địch đang thay lính dù bằng lính thủy tại “nhà Xanh” cạnh nhà thờ (gọi vậy vì ngôi nhà được sơn màu xanh). Tôi lập tức gọi anh em tổ chức đánh chiếm ngay trong đêm. Có một chiến sĩ quê Hải Hưng cũ, vừa được bổ sung từ đêm trước, chạy phía sau tôi thì trúng đạn. Trận đánh quá ác liệt, đơn vị phải dốc toàn lực giành giật từng vị trí, nên tôi dường như không thể “kịp” có cảm xúc gì khi chứng kiến khoảnh khắc người đồng đội phút trước còn kề vai sát cánh bên mình, phút sau đã hy sinh.
Ngày 16-9-1972, quân ta rút khỏi Thành cổ Quảng Trị sau khi đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Tôi được cử ra Hà Nội học Trường Sĩ quan Lục quân. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, tôi xin trở lại chiến trường để tiếp tục chiến đấu. Tôi nghĩ rằng, đồng đội đã hy sinh quá nhiều, mình phải tiếp tục chiến đấu để san sẻ với anh em. Khi chiến tranh kết thúc, tôi trở lại học tại Học viện Quân y và từ đó luôn nỗ lực cống hiến cho nền y học nước nhà.
Bây giờ, khi đã nghỉ hưu và có cuộc sống ổn định như bao người, tôi càng thấm thía giá trị của hòa bình. Tôi và những đồng đội may mắn còn sống vẫn hay nói với nhau: “So với những hy sinh của những người đã nằm xuống, được sống như bây giờ là “lãi” lắm rồi”. Hằng năm, cứ đến ngày 27-7, chúng tôi lại trở về Quảng Trị, thắp nén hương tri ân, tưởng nhớ những người bạn, người đồng đội đã gửi lại tuổi 20 nơi chiến trường.
Tôi chỉ mong thế hệ trẻ hôm nay biết trân trọng hòa bình, bởi cha ông đã đánh đổi bằng biết bao xương máu để có được bầu trời bình yên như ngày hôm nay. Hãy giữ gìn và dựng xây đất nước ngày càng phát triển, giàu đẹp, xứng đáng với công lao của những người đi trước.



