LỜI NGƯỜI VIẾT Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc giải phóng miền Nam đã kết thúc được 25 năm, tôi bắt đầu viết trang đầu tiên cho tập Chuyện tự kể này. Lúc bấy giờ tôi đã bước qua tuổi “thất thập cổ lai hi”.
Tôi là một chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc tháng 9 năm 1954. Đến tháng 4 năm 1965 tôi rất vinh dự được trở về cùng đồng bào đồng chí đánh Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam.
Đường về từ lúc vượt qua đầu nguồn sông Bến Hải đến điểm dừng chân cuối cùng tại đô thành Sài Gòn vừa chẵn 10 năm.
Sự kiện xảy ra thì nhiều, khả năng viết lách diễn tả của tôi hạn hẹp kém cỏi, tôi chỉ mạo muội kể lợi đôi điều mắt thấy tai nghe. Phần lớn chuyện, tôi là người trong cuộc.
“Chuyện tự kể” do lòng tôi nghĩ sao viết vậy, thấy sao kể vậy. Phán xét là quyền người đọc.
Đường về gặp phải Lừa từ sắt thép bùng ra, từ khốc liệt gian khổ. Mà củng từ ý chí nung nấu “Ra đi theo ánh lửa từ trái tim này…” quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong mỗi chiến sĩ chúng tôi.
Nhưng chúng tôi vẫn luôn có Hoa nở trong tâm hồn. Nếu không, làm sao chúng tôi có được niềm tin, lạc quan và chịu đựng để xông tới.
Vi vậy tập “Chuyện tự kể” có tên HOA LỬA ĐƯỜNG VỀ
Đối tượng người đọc tôi viết dành cho con cháu trong nhà. Chủ ý để chúng biết sở dĩ có cuộc sống tốt đẹp hôm nay, đã và đang nên cây xanh trái ngọt phải trả giá bằng xương máu của hàng triệu đồng bào chiến sĩ ngã xuống; hàng vạn người tuy đang sống nhưng cơ thể không còn lành lặn và đến nay vẫn còn rất nhiều người phải mang không biết bao nhiêu nỗi đau.
Tôi xin lỗi với người đọc vì chắc chắn tập chuyện này mắc nhiều sai sót. Xin được góp ý. Chân thành cảm ơn.
Thành phố Hồ Chí Minh Mùng 2 tháng 9 năm 2006Nguyễn Văn Nỹ | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Hoa lửa đường về« Trả lời #2 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2022, 08:17:42 am » | 1
TẾT VÀ CHUYỆN ĐÁNG NHỚ Ở CHIẾN TRƯỜNG TRỊ THIÊN - TÂY NGUYÊN Sau những đợt hoạt động tác chiến vùng Sa Thầy, trung đoàn 88 được Bộ Tư lệnh B3 (Tây Nguyên) điều động xuống phía Nam. Tháng 1 năm 1967, trung đoàn đứng chân địa bàn tỉnh Gia Lai ven biên giới Việt Nam - Campuchia.
Mấy ngày hành quân không nghỉ, tiểu đoàn 7 vượt lộ 19 trú quân bắc cao điểm 732 và sông Iadrăng (nam Tây Nam huyện lỵ Đức Cơ). Đây là vùng đồi núi với những khu rừng nguyên sinh bạt ngàn. Vào rừng nếu không quen thuộc địa hình, không địa bàn trong tay khó xác định phương hướng. Cây cao vời vợi, tàn lá ken dày nhiều tầng không thấy bóng mặt trời. Hiếm hoi mới bắt gặp một vài tia nắng. Tám giờ sáng mới nhìn rõ mọi vật. Ba giờ chiều đã xâm xẩm tối. Nhiều cây đường kính ước chừng cả mét. Phổ biến là các loại cây gần một người ôm. Hôm đi nghiên cứu địa hình vùng đóng quân, đồng chí Tham mưu trưởng suýt xoa luôn miệng: “Cả một kho báu, kho báu khổng lồ đồng chí Tiểu đoàn trưởng ạ! Người ta nói rừng vàng biển bạc đâu sai. Đồng chí xem này, vô vàn các loại cây quý: Gõ, Cẩm Lai, Giáng Hương, cha ơi! Cả Lim và Trắc nữa... Có lẽ bao thứ gỗ đắt giá trên đời đều hội tụ cả đây...”. Đồng chí ấy thao thao bất tuyệt về lai lịch từng loại cây. Là cán bộ đại đội thời đánh Pháp, miền Bắc độc lập, đồng chí được chuyển ngành đi học lớp trung cấp lâm nghiệp, rồi Đại học Nông lâm, trở thành kỹ sư giỏi nghề rừng. Đánh Mỹ giải phóng miền Nam, đồng chí tình nguyện trở lại quân ngũ. Sau mấy lớp tập huấn quân sự, đồng chí được điều về làm Tham mưu trưởng tiểu đoàn tôi. Quét mắt qua, đồng chí phân biệt rành rẽ từng loại cây và giá trị của nó. Tôi tuy sống bám rừng nhiều năm thời kháng chiến đánh Pháp ở miền Nam. Tập kết ra Bắc đóng quân ở Nghệ An cũng mất cả năm “đẵn tre chặt gỗ trên ngàn” đưa về xuôi làm doanh trại. Thế mà hiểu cây rừng tôi như... Đi lạc vào rừng chả biết mô tê gì. Tôi chỉ châm bẩm đến thứ nấm mối, cây riềng, quả gùi.... Nấm mối sản sinh trong rừng ăn không chê vào đâu được. Nó mọc từng cụm, từng vạt nhỏ khoảng nửa mét vuông đến bằng chiếc chiếu trải. Gặp được tụt ngay bồng hoặc cởi áo nhặt túm mang về. Được nó quý hơn ăn rau củ nào khác có ở rừng. Chỉ một bụm bỏ vào nồi nước đun sôi, thêm chút muối, không cần bột ngọt, cả tiểu đội có món canh ngon lành. Nước ngọt lịm như nước gà luộc. Bỏ miếng nấm vào miệng như nhai thịt gà xé phay. Còn riềng, thứ gịa vị không thể thiếu khi làm món giả cầy. Với lính vượt Trường Sơn, nó là thứ ưu đãi trời cho nơi hoang dã, băm nhỏ trộn với muối hột trở thành thức ăn chủ lực hàng ngày. Nó không phải dễ tìm, thỉnh thoảng mới gặp.
Tiểu đoàn đóng quân trong cụm rừng già chưa dấu chân người lai vãng. Một con suối cạn lưng chừng ống quyển nước trong như lọc, nhìn thấy cả sỏi màu sắc óng ánh dưới đáy. Tre lồ ô to bằng bắp chân, cao hàng chục mét ken dày với cây rừng tha hồ sử dụng làm lán trại. Đã có tre ắt có măng. Măng non nhiều vô kể. Có được thứ thực phẩm dễ chế biến ăn độn thêm càng chắc bụng. Ở đây kín đáo yên tĩnh. Suốt ngày không nghe tiếng pháo ùng oàng từ căn cứ Mỹ từng chập vãi đạn vào rừng. Chỉ bị quấy rầy lỗ tai bởi tiếng động cơ như chuông ngân của loại máy bay do thám Xi-ben lượn lờ tầm cao tọc mạch dòm ngó. “Cho mày tìm, ở đây kín lắm. Bọn ông giữ nghiêm kỷ luật lửa khói đếch sợ”. Nói thế chứ vừa đặt balô, việc đầu tiên của lính là tháo cuốc đào ngay công sự. Đề phòng phi pháo và tránh bị tập kích bất ngờ ở mặt đất xem như chuyện ăn ngủ, chuyện thở của lính thường ngày. Ai dám khinh địch, chủ quan đồng nghĩa với đổ máu. Điều này với lính ta là bài học nằm lòng.
Trong hai ngày toàn tiểu đoàn hoàn thành lán trại, công sự. Nghị quyết Đảng ủy được quán triệt từng chi bộ cấp đại đội, từng tổ Đảng cấp trung đội. Được biến thành quyết tâm khi đưa ra Hội đồng quân nhân. Trú quân bất kỳ đâu từ một đến hai ngày được phép nằm võng. Hai ngày trở lên phải nằm sạp. Lâu hơn phải có lán trại hẳn hoi. Điều này lúc đầu chấp hành vì tính tổ chức kỷ luật, sau trở thành thói quen tự giác có nếp, chỉ huy không phải đôn đốc nhắc nhở. Cứ tổ ba người một lán. Lán có sạp nằm mắc được màn. Vách thưng lá đùng đình hoặc tre nứa đập dập ghép lại. Mái lợp bằng tre lồ ô chẻ đôi úp chồng lên nhau. Làm thế không hề có một giọt nước dột. Nếu trú quân trong tầm khống chế hỏa lực địch, thay cho lán nổi trên mặt đất bằng lán âm phải sâu một mét trở lên.
Hôm ấy 29 Tết âm lịch. Còn một ngày hết năm Bính Ngọ (1966) bước sang Đinh Mùi (1967). Tuổi tôi sắp qua ba con giáp chẵn: Ai nấy phấn khởi được cấp trên cho về đây nghĩ ngơi đón Tết dưỡng sức sau một năm hoạt động liên miên bất kể ngày đêm.
Tôi đi kiểm tra việc ăn ở, phòng thủ của các đại đội về tiểu đoàn bộ. Đồng chí trợ lý hậu cần báo cáo việc cung cấp thực phẩm, nhu yếu phẩm cho bộ đội. Nghe qua ai cũng mừng rơn. Chắc chắn được một cái Tết xôm tụ. Mỗi khẩu phần được hai lạng rưỡi thịt tươi, ba lạng nếp, ba lạng đường trắng, một lạng đậu xanh, một lạng kẹo, ba điếu thuốc lá Tam Đảo. Mỗi tổ một hộp sữa nước, một gói trà Ba Đình loại hai, nửa ký thịt chà bông. Mỗi tiểu đội có bộ bài Tây và bàn cờ tướng. Thế quá đủ trong điều kiện muôn vàn khó khăn hạn chế ở chiến trường. Sự chăm lo chu đáo của Đảng, Chính phủ, nhân dân cả nước với chiễn sĩ nơi tuyến đầu Tổ quốc làm ai cũng xúc động. Chỉ nỗi buồn đón Tết không ai ngoài lính với nhau cùng cây rừng và những hòn đá tảng to tướng...
Đây là cái Tết thứ hai của chúng tôi khi về lại chiến trường Miền Nam. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Hoa lửa đường về« Trả lời #3 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2022, 08:18:11 am » | * * * Cuối tháng 1 năm 1966, Nông trường 10 (bí danh sư đoàn bộ binh 10) tập kết quân miền rừng núi biên giới Tây Thừa Thiên giáp Lào. Mọi sự chuẩn bị khẩn trương để mở chiến dịch vùng Aso-Alưới. Dự kiến khi chiến dịch nổ ra, khả năng Mỹ-ngụy có thể đổ quân bằng đường không đánh phá hậu cứ, cắt chặn hành lang vận chuyển tiếp tế của ta ra phía trước khi chiến dịch mở màn và lui quân sau đó. Phương án dự phòng được bàn đến, nhưng chỉ mới xác định trên bản đồ. cần nghiên cứu thẩm định trên thực địa bổ sung hoàn chỉnh.
Ai sẽ làm nhiệm vụ đi nghiên cứu địa hình? Tôi được giao trọng trách này. Trước đó tôi đang chỉ huy tiểu đoàn bộ binh 2 thuộc trung đoàn 18. Đột nhiên được điều động về làm trợ lý tham mưu tác chiến sư đoàn. Điều bất ngờ ngoài ý muốn không thú vị gì. Song tôi phục tùng mệnh lệnh vì đó là thuộc tính của người lính. Tôi vác ba lô về sư đoàn bộ không một lời phàn nàn.
Cùng đi khảo sát địa hình với tôi có một cán bộ và 5 trinh sát thông thạo nghiệp vụ.
Sáng sớm hôm ra đi ngược đường lên hướng Bắc, cây rừng ướt đẫm như sau trận mưa to. Gió núi thổi thông thốc vào mặt nhưng vẫn không xua tan sương mù dày đặc bao phủ cả một vùng đồi núi bao la. Cái lạnh se thắt giữa đông ở một ngọn núi lưng chừng của dãy Trường Sơn làm các bộ phận trong cơ thể như co rúm lại. Lúc tiễn chân lên đường, đồng chí Tư lệnh mặt trận Vũ Lăng vỗ nhẹ vào lưng tôi giọng thân mật: “Tin tưởng đồng chí sẽ làm tốt nhiệm vụ. Bảy ngày sau có mặt ở Bộ Tư lệnh. Đang còn nhiều việc chờ đồng chí đấy”.
Tôi vừa dọ dẫm từng bước khi xuống cái dốc trơn trợt vừa tính nhẩm thời gian. Mục tiêu tôi đến là khu vực Bản Đôn trên đất Lào. Số điểm khác nằm Đông - Tây một đoạn sông XêPôn nơi phân chia ranh giới hai nước Việt Lào. Đường đi đến đó và nối liền các điểm cần khảo sát nghiên cứu cộng đường về phải hơn 100 km. Đó là đo trên mặt phẳng bản đồ. Thực tế leo đèo lội suối vượt núi băng rừng phải nhân đôi. Bảy ngày chừng ấy cây số đường, mỗi ngày chúng tôi phải vượt khoảng 30 km.
Hôm nay 25 tháng chạp âm lịch. Ngày này ở quê tôi người ta kéo nhau về nghĩa trang gia tộc với hương hoa trà nước cúng lễ ông bà, làm sạch đẹp mồ mả tổ tiên chuẩn bị đón năm mới. Thời gian công tác chỉ trong 7 ngày, tính ra đúng mùng một tết tôi phải có mặt ở Bộ Tư lệnh. Như vậy chúng tôi phải làm việc cật lực. Sẽ không chút rảnh rang nào để đứng trên đỉnh cao ngắm cảnh hoàng hôn xuống, bình minh lên. Chẳng còn hơi sức đâu tựa lưng vào gốc cây hay phiến đá hòa giọng qua cây Harmonica với dòng suối reo và tiếng vượn hú từ xa vọng lại. Tôi không có thời gian để mơ mộng thả hồn đón gió bắt mây trong cảnh thiên nhiên hoang dã. Những lúc như thế với tôi rất thu vị, là chút hạnh phúc ít ỏi riêng tư mỗi khi dừng quân nghỉ ngơi nơi nào đó ở Trường Sơn Đông hay Trường Sơn Tây.
Có chuyện xảy ra trên đường đi tôi nhớ mãi.
ĐỔI GÀ LẤY ÁO Một chiều dừng chân bên khe suối, chúng tôi tìm được hốc đá kín đáo để nấu bữa cơm tối và trú đêm. Mọi người loay hoay theo phần việc của mình. Có tiếng báo cáo của đồng chí cảnh giới. Tôi quay ra gặp một cụ già người Lào. Ông lão tóc bạc trắng da đen sạm, cơ bắp còn rắn chắc. Trời rét cắt ruột thế mà ông mình trần, vận chiếc khố túm vá nhiều chỗ mong manh. Tay ông ôm một con gà mái đẻ nặng ít ra cũng ký rưỡi. Ông nói một tràng dài tiếng Lào để lộ hai hàm chẳng còn mấy cái răng. Tôi không hiểu ý ông nói. Một đội viên biết chút ít tiếng địa phương dịch lại tôi nghe. Té ra ông muốn đổi con gà lấy một cái áo ngắn tay cổ vuông. Đây là loại áo lót may bằng vải thường nhuộm màu trông như áo kaki vàng. Lên đường đi B (vào chiến trường miền Nam) mỗi người chúng tôi được phát hai cái. Ông lão thấy mấy chiếc áo anh em đang hong khô bên bếp lửa. Ông muốn đổi con gà lấy một cái. Nhìn thấy gà mắt ai cũng trố lên. Lâu lắm, nhiều tháng không còn cảm nhận cái hương vị thơm ngon của miếng thịt gà. Ai cũng thèm. Bây giờ nó đang trước mắt. Một cái áo cỡ này chẳng giá trị mấy, nhưng có con gà luộc xé phay ngay lúc đói, thèm ăn thì quá tuyệt. Nước luộc đổ thêm chén gạo sẽ có nồi cháo bốc hơi ngon lành. Được gà bồi dưỡng bù lại những ngày vất vả. Ông già cần áo chống rét, mình cần gà. Một cuộc đổi chác công bằng sòng phẳng chẳng thiệt ai - ai cũng nghĩ thế. Nhưng một luồng tư tưởng khác mạnh hơn lấn lướt.
Trước chuyến đi vài hôm, hội nghị chi bộ Đảng được triệu tập để quán triệt nghị quyết của Đảng ủy mặt trận. Nhiều vấn đề đưa bàn, trong đó, việc tuyệt đối chấp hành kỷ luật dân vận: không xin, mua bán, đổi chác bất cứ vật gì với dân. Ở đây không có ai ngoài bảy người trong cuộc đồng thuận và ông già. Sẽ chẳng tai tiếng nào đến tai lãnh đạo. Nhưng, tuy lúc này có bảy người bằng xương bằng thịt ngồi đây còn có lương tri của quân nhân cách mạng và ý chí của người cộng sản.
Tôi lúc còn ở đơn vị là tiểu đoàn trưởng, thường vụ Đảng ủy tiểu đoàn, về sư đoàn bộ binh làm trợ lý trở thành đảng viên thường. Dù cương vị nào tôi vẫn là đảng viên cộng sản. Tôi phải gương mẫu chấp hành triệt để nghị quyết Đảng. Đó là sức mạnh của Đảng, của quân đội không thứ vũ khí nào đánh bại. Chấp nhận để có những miếng thịt tươi chúng tôi sẽ phá bỏ nghị quyết Đảng ư? Câu trả lời: Không! Điều suy nghĩ này mọi người như tôi. Trong nhóm chúng tôi có 3 Đảng viên. Khi tôi nêu vấn đề này ai cũng đồng tình kể cả anh em ngoài Đảng. Không một ai tỏ ra tiếc rẻ.
Trong lúc chờ đợi quyết định đổi áo lấy gà, mắt ông lão cứ hấp háy dán vào chiếc áo trong tay anh đội viên trẻ. Anh vụt đứng dậy cầm áo bước lại chỗ ông, nhiều anh lừ mắt có ý cản. Anh nói:
- Em xin phép tặng không ông ấy chứ không đổi gà.
Đồng chí đội trưởng trinh sát giọng sôi nổi:
- Ậy, đồng chí không nhiều áo, vả lại nó mong manh không đủ ấm. Tôi còn thừa một chiếc sợi đan đây để tôi tặng ông ấy. Vừa nói anh tròng vào người ông lão chiếc áo sợi màu tím than khá dày, tay dài cổ đứng. Phủ trùm lên nét mặt nhăn nheo là nụ cười rạng rỡ lan tỏa khuôn mặt ông. Ông cầm con gà dúi vào người đội trưởng ra dấu như muốn nói: “Anh cho tôi áo anh phải lấy gà. Trông đây, nó béo chứ, sắp đẻ trứng đấy”.
Đồng chí đội trưởng xua tay lắc đầu lia lịa. Anh đội viên bập bẹ tiếng Lào phải giải thích mãi với ông. Phần gạo chưa kịp vo anh trút vội vào cái túi mây đan của lão đeo lủng lẳng bên hông. Ông đứng đó tần ngần, người như lặng đi. Nơi hai khóe mắt già nua những giọt nước long lanh lăn dài xuống đôi má sạm đen nắng gió. |
|
|