Cựu Thanh niên xung phong

HOA LỬA GIỮ KHO GIỮA LÒNG NÚI

Câu chuyện tái hiện những năm tháng lực lượng Thanh niên xung phong Mường Lay bám trụ giữ kho hậu cần trong lòng núi Na Lay giai đoạn 1967–1971, bảo vệ lương thực, vũ khí và quân trang trước bom đạn, mưa lũ và sự thiếu thốn kéo dài. Qua lời kể của nhân chứng Quàng Văn Dính, hình ảnh những hoa lửa thầm lặng hiện lên giữa núi rừng Tây Bắc, với niềm tin son sắt: “Kho còn vững, tuyến sau còn mạnh, tiền tuyến thêm sức.”

Điện Biên30/01/2026BÙI THỊ THU TRANG (Đoàn phường Mường Lay)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những ngày trời chuyển mưa, sương núi phủ kín lối vào hang đá sau bản Na Lay, ông Quàng Văn Dính lại nhớ về quãng đời tuổi trẻ của mình – quãng đời gắn với những đêm canh kho không ngủ, với mùi đất ẩm, mùi lương thực và nỗi lo thường trực trước tiếng máy bay gầm rú trên đầu.

Sinh năm 1944, lớn lên giữa núi rừng Tây Bắc, ông Dính quen với việc lên nương, xuống suối. Năm 1967, khi chiến tranh leo thang, các kho lộ thiên dễ bị đánh phá, hậu cần địa phương phải chuyển vào lòng núi. Ông tình nguyện gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, được phân công giữ kho hậu cần Na Lay – nơi cất giữ gạo, muối, thuốc men và một phần quân trang phục vụ tiền tuyến.

Kho nằm sâu trong hang đá, ẩm thấp và tối. Ban ngày, anh em tranh thủ phơi sấy lương thực, gia cố cửa kho, ngụy trang lối vào bằng cây rừng và đất đá. Ban đêm, họ thay nhau canh gác, lắng nghe từng động tĩnh nhỏ. Mỗi khi máy bay địch quần thảo, cả đội nín thở, giữ im lặng tuyệt đối, sẵn sàng ứng phó nếu kho bị phát hiện.

Ông Dính nhớ có những đợt mưa kéo dài, nước từ sườn núi tràn vào cửa hang, đe dọa làm hỏng lương thực. Không chờ mệnh lệnh, anh em TNXP chia nhau đào rãnh thoát nước, kê cao bao gạo, thức trắng đêm hong khô từng bao bằng bếp củi nhỏ đặt sâu trong hang. Khói được dẫn theo khe đá thoát ra ngoài để không lộ vị trí. Mỗi bao gạo giữ được là thêm một bữa ăn cho bộ đội ngoài mặt trận.

Có lần, bom nổ gần khu vực kho, đá rơi lấp một phần lối vào. Trong ánh đèn pin che kín, ông Dính cùng đồng đội khẩn trương dọn đá, gia cố lại cửa kho ngay trong đêm. Mồ hôi hòa với bùn đất, tay rớm máu vì đá sắc, nhưng không ai bỏ vị trí. Với họ, kho an toàn là mệnh lệnh, là trách nhiệm với tiền tuyến đang ngày đêm chờ tiếp tế.

Những tháng ngày giữ kho kéo dài trong thiếu thốn. Bữa ăn đơn sơ, giấc ngủ chập chờn, nhưng tinh thần thì luôn vững vàng. Giữa núi rừng heo hút, tình đồng đội là điểm tựa lớn nhất. Họ chia nhau từng nắm cơm, động viên nhau vượt qua nỗi nhớ nhà, cùng giữ vững niềm tin vào ngày đất nước yên bình.

Năm 1971, khi nhiệm vụ kết thúc, ông Quàng Văn Dính rời kho núi trở về địa phương. Nhiều đồng đội của ông đã không còn, nằm lại đâu đó giữa núi rừng trong những lần làm nhiệm vụ. Ký ức về họ theo ông suốt cuộc đời, lặng lẽ mà sâu nặng.

Hôm nay, khi kể lại câu chuyện giữ kho năm xưa cho thế hệ trẻ, ông chỉ mong các cháu hiểu rằng: hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao nỗ lực thầm lặng. Những hoa lửa giữ kho giữa lòng núi Na Lay tuy không rực rỡ giữa chiến trường, nhưng đã cháy bền bỉ, góp phần giữ vững hậu phương, tiếp sức cho tiền tuyến đi đến thắng lợi cuối cùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
HOA LỬA GIỮ KHO GIỮA LÒNG NÚI | Câu chuyện thời hoa lửa