HOÀNG HOA THÁM
Tên thật của Hoàng Hoa Thám là Trương Văn Nghĩa, sau đổi thành Trương Văn Thám. Ông còn được gọi bằng nhiều biệt danh khác như Đề Dương, Đề Thám (do được phong chức Chánh Đề Đốc) và “Hùm thiêng Yên Thể”.
Hoàng Hoa Thám (1858-1913) sinh tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Năm 1892, ông trở thành lãnh tụ của phong trào Yên Thế, một phong trào nông dân đấu tranh chống thực dân Pháp. Từ đây cuộc khởi nghĩa của ông mở rộng địa bàn khắp trung du và đồng bằng, kể cả vùng Hà Nội, đánh tan nhiều cuộc tấn công của địch. Do lực lượng không cân sức, cuộc khởi nghĩa kéo dài tới năm 1909 bị thất bại. Năm 1912, Hoàng Hoa Thám bị một kẻ phản bội sát hại. Ông xứng đáng là vị anh hùng dân tộc cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
Hoàng Hoa Thám hồi còn bé tên là Trương Văn Nghĩa, quê huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, bố là Trương Văn Thân và mẹ là Lương Thế Minh.
Sinh thời, bố mẹ Hoàng Hoa Thám đều là những người rất trọng nghĩa khí; cả hai ông bà đều gia nhập cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Nhân (Nùng Văn Vân) ở Sơn Tây.
Năm 16 tuổi, ông tham gia khởi nghĩa của Đề Trần (1870-1875). Khi Pháp chiếm Bắc Ninh (3-1884) thì Hoàng Hoa Thám gia nhập nghĩa binh của Trần Quang Loan, lãnh binh Bắc Ninh, rồi nghĩa quân của Hoàng Đình Kinh (1882-1888), và sau đó ông đứng dưới cờ nghĩa Lương Văn Nắm (Đề Nắm) và trở thành một tướng lĩnh có tài.
Trong những năm 1893-1895, thực dân Pháp tập trung lực lượng đàn áp rất quyết liệt nhưng vẫn không dập tắt được nghĩa quân vì Hoàng Hoa Thám sử dụng chiến thuật du kích linh hoạt. Pháp nhiều lần phải xin giảng hòa để tạm thời ổn định tình hình, trong khi nghĩa quân tranh thủ thời gian củng cố lực lượng.
Từ năm 1897 đến 1909, phong trào Yên Thế phát triển mạnh hơn, mở rộng địa bàn hoạt động ra nhiều nơi, kể cả vùng Hà Nội, gây tiếng vang lớn, đặc biệt là sự kiện “Hà thành đầu độc” năm 1908. Đến năm 1909, Pháp huy động lực lượng rất lớn mở cuộc tổng tấn công vào Yên Thế, khiến nghĩa quân bị tổn thất nặng nề.
Những năm sau đó, lực lượng nghĩa quân dần suy yếu. Năm 1913, Hoàng Hoa Thám bị kẻ phản bội sát hại. Ông được nhân dân kính trọng, ca ngợi là anh hùng dân tôc tiêu biểu cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.
Biến Đồn Phồn Xương thành căn cứ kháng chiến vững chắc, nơi nghĩa quân sinh sống và chiến đấu, gắn kết chặt chế với nhân dân.
Áp dụng chiến thuật du kích tài tình, chia nhỏ lực lượng, hoạt động trên địa bàn rộng lớn (Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Phúc Yên) để bảo toàn lực lượng, tránh các đợt tấn công tổng lực của Pháp.1890-1892: Các trận đánh ở Hố Chuối (1890), Đồng Hom (1892), diệt nhiều quân Pháp và tay sai, gây tiếng vang lớn.
Giai đoạn đình chiến (1897-1909): Hai lần đàm phán, đình chiến với Pháp, giúp nghĩa quân có thời gian củng cố lực lượng, mua sắm vũ khí, vừa sản xuất tự túc, vừa rèn luyện quân đội.
Kết hợp “vừa đánh vừa đàm”.
Xây dựng thế trận “làng xã chiến đấu liên hoàn” trên địa bàn rộng, tạo ra một lực lượng kháng chiến uy lực, gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp trong nhiều năm.
Khu di tích Hoàng Hoa Thám tại Yên Thế, Bắc Giang:Nơi đây bao gồm Đền Thờ Hoàng Hoa Thám và các dấu tích căn cứ kháng chiến xưa (như tường đất, lỗ châu mai) trên địa bàn Yên Thế, Bắc Giang.Hàng năm, Lễ hội Yên Thế (Lễ hội Vội Yên Thế) được tổ chức từ 15-17/3 tại khu di tích này để tưởng nhớ ông.Nhà Tưởng Niệm Hoàng Hoa Thám tại Dị Chế, Tiên Lữ, Hưng YênĐền Thờ Hoàng Hoa Thám (Núi Giáp Đồn Phồn Xương)



