Hoàng Sâm - Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 3 đầu tiên
Họ và tên: Hoàng Sâm Tên thật là:Trần Văn Kỳ Năm sinh: 1915 Năm mất:12/1968 Năm vào Đảng:1933 Quê quán: Tỉnh Quảng Trị Dân tộc: Kinh Chức vụ: - Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 3 - Đại biểu Quốc hội: Khóa I, II, III Khen thưởng/Giải thưởng: - Huân chương Hồ Chí Minh - Huân chương Quân công hạng Nhất - Huân chương Chiến thắng hạng Nhất - Huân chương Khánh chiến hạng Nhất

Tóm tắt quá trình công tác:
- 1927: Đồng chí theo cha mẹ sang Thái Lan sinh sống
- 1928: Được gặp Bác Hồ và trở thành liên lạc của Người ở Thái Lan
- 1933: Được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương và sau đó được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), phụ trách địa điểm liên lạc, in ấn và phát truyền đơn
- 1934-1935: Bị mật thám Thái Lan bắt giam rồi bị trục xuất khỏi Thái Lan
- 1935: Được tổ chức bí mật đưa sang Trung Quốc tiếp tục hoạt động
- 1936: Được cử đi học tiếng Trung Quốc ở Quảng Tây (Trung Quốc)
- 1937-1939: Về nước và là Tỉnh ủy viên rồi Thường trực Tỉnh ủy Cao Bằng phụ trách cơ quan in và công tác giao thông liên lạc ở biên giới
- Cuối 1940: Đi Tĩnh Tây (Trung Quốc) để bắt liên lạc với cấp trên và tham dự lớp huấn luyện cán bộ về công tác tổ chức đoàn thể quần. Khi này, đồng chí gặp lại Bác Hồ và được Bác đặt tên là Hoàng Sâm
- 1940-1943: Đội trưởng Đội vũ trang tuyên truyền của Tổng bộ Việt Minh, bảo vệ Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (1941)
- 1941: Tỉnh ủy viên tỉnh Bắc Kạn, phụ trách tự vệ chiến đấu trừ gian và củng cố cơ sở cách mạng, tổ chức du kích khu vực biên giới hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn; Đội phó rồi Đội trưởng Đội du kích Pắc Pó. Đây là đội du kích đầu tiên gồm 12 người
- 22/12/1944: Được tín nhiệm bầu làm Đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) và trực tiếp chỉ huy đánh thắng Phai Khắt, Nà Ngần , Đồng Mu, mở đầu cho truyền thống “bách chiến, bách thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam; tham gia Ủy ban giải phóng, phụ trách Quân sự khu giải phóng gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên
- 1946-1950: Khu trưởng Khu 2, Chỉ huy Mặt trận Tây tiến, Tư lệnh Liên khu 3
- 1/1948: Được phong quân hàm Thiếu tướng
- 1951: Phái viên Bộ Quốc phòng tham gia chiến dịch với các Đại đoàn 312, 304
- 7/1952: Tư lệnh Liên khu 3
- 1953-1954: Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304 và Chỉ huy trưởng mặt trận Trung Lào.
- Sau hiệp nghị Giơnevơ (1954), chỉ huy tiếp quản Sơn Tây, Hà Đông; Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320, chỉ huy tiếp quản Hải Phòng
- 1955-1968: Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, Tư lệnh Quân khu 3
- 1962-1964: Chuyên gia quân sự cho Chính phủ liên hiệp (thành lập giữa Pathet Lào và Chính phủ Hoàng gia)
- 6/1968: Tư lệnh Quân khu Trị Thiên
- 12/1968: Hy sinh tại chiến trường Bình-Trị-Thiên.


