HOÀNG SÂM VÀ CHIẾN DỊCH LÊ LỢI 1949–1950
Hoàng Sâm, tên thật Trần Văn Kỳ, sinh năm 1915 tại Lệ Sơn, Tuyên Hóa, Quảng Bình. Từ những năm đầu hoạt động cách mạng, ông đã gắn với công tác xây dựng lực lượng vũ trang. Năm 1942, ông được giao làm Đội trưởng Đội vũ trang Cao Bằng.
Ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, Cao Bằng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập với 34 chiến sĩ. Võ Nguyên Giáp phụ trách chỉ huy chung, còn Hoàng Sâm được chọn làm Đội trưởng.
Chỉ ba ngày sau, đội quân nhỏ ấy bước vào trận đầu tiên. Ngày 25-12-1944, trận Phai Khắt diễn ra. Ngày hôm sau là trận Nà Ngần. Hoàng Sâm cùng Ban Chỉ huy trực tiếp tổ chức, chỉ huy hai trận đánh. Sau đó, ông tiếp tục chỉ huy các trận Đồng Mu và phục kích trên đường Nà Ngần – đèo Cao Bắc.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Hoàng Sâm tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị chỉ huy. Tháng 10-1945, ông được giao làm Khu trưởng Chiến khu 2. Đầu năm 1947, ông kiêm Chỉ huy trưởng Mặt trận Tây Tiến, trực tiếp tổ chức lực lượng chiến đấu ở vùng Tây Bắc và phối hợp với cách mạng Lào.
Ngày 20-1-1948, Hoàng Sâm được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm Thiếu tướng, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau đó, ông giữ nhiều cương vị chỉ huy cấp chiến khu, liên khu và đại đoàn; trong đó có Tư lệnh Liên khu 3 và Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304.
Năm 1953–1954, Hoàng Sâm là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, đồng thời chỉ huy Mặt trận Trung Lào và Tư lệnh Chiến dịch Trung – Hạ Lào. Những chiến dịch này diễn ra trong cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953–1954, phối hợp với hướng Điện Biên Phủ.
Sau Hiệp định Genève, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều vị trí chỉ huy trong quân đội. Những năm 1961–1962, ông sang Lào làm Phó Đoàn trưởng Đoàn chuyên gia quân sự 959. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông lần lượt giữ các cương vị Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, Quân khu 3, Quân khu Hữu Ngạn và Quân khu Trị – Thiên. Tháng 5-1968, ông là Tư lệnh Mặt trận Trị – Thiên.
Cuộc đời quân sự của Hoàng Sâm vì thế gắn với một chặng đường rất dài: từ đội quân 34 chiến sĩ năm 1944 đến những đơn vị chủ lực quy mô lớn, từ những trận đánh đầu tiên ở Cao Bằng đến các chiến trường Tây Bắc, Trung Lào và Trị – Thiên.
Ông hy sinh tại chiến trường Trị – Thiên vào cuối năm 1968, khép lại hơn bốn thập niên gắn bó với hoạt động quân sự và chiến đấu. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nhận ông đã có 41 năm liên tục công tác và chiến đấu trong quân đội.



