Hoàng Văn Thụ – người cộng sản “gang thép” trước pháp trường
Hoàng Văn Thụ – người cộng sản “gang thép” trước pháp trường
Hoàng Văn Thụ (1906–1944), tên khai sinh là Hoàng Ngọc Thụ, là nhà lãnh đạo cao cấp của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, từng giữ các cương vị trọng yếu như Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư Tổng bộ Việt Minh, đồng thời là một nhà thơ cách mạng tiêu biểu trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Ông sinh ngày 4 tháng 11 năm 1906, là người dân tộc Tày, quê tại xóm Phạc Lạng, xã Nhân Lý, châu Điềm He (nay thuộc tỉnh Lạng Sơn). Từ nhỏ, Hoàng Văn Thụ đã được học chữ Hán và chữ Quốc ngữ, sớm hình thành tư duy độc lập và lòng yêu nước sâu sắc. Trong những năm học tập tại thị xã Lạng Sơn, ông kết bạn với Hoàng Đình Giong và Lương Văn Tri – những người sau này cùng ông trở thành các chiến sĩ cách mạng kiên trung.
Năm 1926, sau lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh, Hoàng Văn Thụ tham gia thành lập các nhóm thanh niên yêu nước. Cuối năm 1927, ông sang Quảng Tây (Trung Quốc) tìm đường hoạt động cách mạng, từng bị truy bắt, phải sống trong cảnh vô cùng gian khổ, có lúc cải trang bán thuốc cao, có khi phải đi xin ăn để tồn tại, nhưng chưa một ngày từ bỏ lý tưởng.
Từ nước ngoài, ông kiên trì gây dựng cơ sở cách mạng trong nước, hình thành các tổ chức quần chúng ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Văn Uyên, Đồng Đăng, Thất Khê… Ông là một trong những cán bộ nòng cốt kết nối phong trào cách mạng trong nước với Ban Chỉ huy hải ngoại của Đảng. Nhờ tinh thông tiếng Hán, Hoàng Văn Thụ tiếp cận sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin và các trước tác cách mạng đương thời, trở thành cán bộ lý luận vững vàng.
Năm 1935, sau khi dự Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương, ông được cử về nước hoạt động. Trên cương vị Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, Hoàng Văn Thụ trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong điều kiện thực dân Pháp khủng bố gắt gao. Ông nhiều lần cải trang, đổi tên, di chuyển liên tục, gây dựng và khôi phục tổ chức Đảng, đặc biệt là Thành ủy Hà Nội, mà trong giai đoạn 1939–1943, ông đã 10 lần khôi phục lại sau những đợt tan vỡ vì nội phản và đàn áp.
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (5/1941) ở Pác Bó, ông được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng, đồng thời giữ chức Bí thư Tổng bộ Việt Minh, trực tiếp phụ trách công tác binh vận – một lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.
Tháng 8 năm 1943, do bị chỉ điểm, Hoàng Văn Thụ bị bắt tại Hà Nội và giam ở nhà tù Hỏa Lò. Trong lao ngục, ông vẫn giữ vững khí tiết người cộng sản, kiên cường trước hơn 20 trận tra tấn dã man. Ông không chỉ động viên tinh thần các đồng chí bị giam, mà còn tranh luận, cảm hóa cả những người canh tù, làm cho nhiều người kính phục.
Biết trước mình sẽ hi sinh, Hoàng Văn Thụ vẫn ung dung, thanh thản. Ông từng nói với bạn tù:
“Các anh ăn đi để còn lấy sức chiến đấu, tôi bây giờ ăn vào cũng chỉ nuôi cây thôi.”
Tháng 1 năm 1944, thực dân Pháp kết án tử hình ông.
Sáng ngày 25 tháng 4 năm 1944, tại pháp trường Tương Mai, Hoàng Văn Thụ hiên ngang bước ra trước mũi súng quân thù. Ông từ chối bịt mắt, dõng dạc tuyên bố:
“Sự hi sinh của những người như tôi là điều tất yếu.
Cuối cùng, nhân dân chúng tôi nhất định sẽ chiến thắng.”
Một viên giám thị Pháp đã phải thốt lên:
“Thật là một người cộng sản gang thép.”
Hoàng Văn Thụ hi sinh ở tuổi 38. Cái chết của ông gây chấn động mạnh mẽ trong phong trào cách mạng lúc bấy giờ, tiếp thêm ý chí đấu tranh cho hàng vạn chiến sĩ và quần chúng yêu nước.
Không chỉ là nhà lãnh đạo xuất sắc, Hoàng Văn Thụ còn là nhà thơ cách mạng, để lại những vần thơ bất hủ như “Đoạn tuyệt” – lời khẳng định dứt khoát giữa con đường cứu nước và vinh hoa cá nhân, và “Nhắn bạn” – bài thơ tuyệt mệnh gửi Hoàng Ngân, thể hiện khí phách, niềm tin sắt son vào thắng lợi của cách mạng:
“Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành.”
Ngày nay, tên ông được đặt cho nhiều phường, phố, trường học, khu tưởng niệm trên khắp cả nước. Hài cốt của ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, như một sự tri ân đối với người đã hiến trọn đời mình cho độc lập dân tộc.



