Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Hồi ký của người lính quân y trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Nghệ An10/08/2026Xã Trà Giang (Đoàn xã Trà Giang)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Hồi ký của người lính quân y trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân y là lực lượng quan trọng, có nhiệm vụ cứu chữa thương, bệnh binh nhằm khôi phục sức mạnh chiến đấu của các đơn vị trên toàn mặt trận, góp phần làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Đọc những trang hồi ký của Trung Tá Nguyễn Trung Lựu (cố Giám đốc Bệnh viện Quân y 91, Cục Hậu cần, Quân khu 1), chúng tôi thấu hiểu và trân trọng những ngày tháng gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt của những “người lính áo trắng” năm xưa.

Ông Nguyễn Trung Lựu sinh năm 1927, tại xã Hưng Dũng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Tháng 6-1951, ông được Bộ tư lệnh Liên khu 5 (nay là Quân Khu 5) cử ra Việt Bắc học lớp y sĩ tại Trường Quân y sĩ. Sau đó, ông được giữ lại Liên khu Việt Bắc (nay là Quân khu 1) để phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Những câu chuyện, kỷ niệm trong chiến dịch được ông nắn nót ghi vào cuốn hồi ký chiến trường của mình và giữ gìn tới những ngày cuối cùng của cuộc đời. Trước khi mất, ông đã kịp hiến tặng cuốn hồi ký cho Bảo tàng Lực lượng Vũ trang Việt Bắc Quân khu 1.

Trong cuốn hồi ký ông viết, tháng 3-1954 khi ông cùng đồng đội chuẩn bị hành trang trở về chiến trường Liên khu 5, thì nhận được lệnh tham gia phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, của Cục trưởng Cục Quân y Vũ Văn Cẩn. Ai nấy đều rất phấn khởi, chuẩn bị lên đường. Sau khi đi nhờ xe chở đạn tới đèo Pha Đin, những người lính quân y tiếp tục đi bộ theo hướng huyện Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên). Bởi đây là tuyến đường độc đạo đi Điện Biên nên địch cho máy bay bắt phá suốt cả ngày. Khó khăn là vậy, nhưng quân và dân ta vẫn qua vượt núi cao, đèo sâu, dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù, để ra mặt trận. Ông lạc quan viết: “Đường ra mặt trận đông vui tấp nập, người xe chen nhau. Công binh sửa đường, bộ binh hành quân, dân công tải gạo, xe thồ, xe kéo pháo, xe tải chở đạn mang theo nguỵ trang cây lá rập rờn”.

Lực lượng quân y chiến dịch thời điểm đó được huy động từ tất cả các cơ quan, đơn vị trên cả nước, bao gồm các đội điều trị của các đại đoàn và các đội điều trị của Cục Quân y. Ông Nguyễn Trung Lựu được điều tới công tác tại bệnh viện mặt trận (thuộc Cục Quân y).

Quy trình cứu chữa cho thương, bệnh binh sẽ lần lượt theo tuyến từ quân y cấp tiểu đoàn, trung đoàn, đại đoàn và các tuyến bệnh viện. Tuỳ vào tình trạng thương tổn, bệnh nhân sẽ được chuyển tới tuyến phù hợp. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, ông và đồng đội phải làm việc liên tục trong điều kiện hết sức khó khăn, địa hình chủ yếu là rừng núi hiểm trở, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, mưa nắng thất thường. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, thiếu máy móc, thiết bị, dụng cụ y tế, thuốc men. Ông viết: “Bệnh viện dựng trong rừng sâu. Có những ngày đêm mưa gió tầm tã, lán trại ướt sũng, đường sá hầm hào bùn nước lầy lội, phải lấy nilon, vải bạt ra để che cho thương binh, còn mình thì chịu ướt vì nghĩ họ đã đau đớn rồi, không thể để họ phải chịu ướt, rét nữa. Có những ngày đông bệnh nhân, đứng phụ mổ suốt ngày đêm, buồn ngủ díp mắt, lại còn bị côn trùng đốt, đau tái người nhưng không có cách nào phản ứng vì tay đang làm nhiệm vụ, phải bảo đảm vô trùng”.

Sau khi chữa trị, những trường hợp sức khoẻ gần hồi phục, còn khả năng chiến đấu thì được chuyển về đoàn an dưỡng, có tổ chức cán bộ, quân lực của đại đoàn tiếp nhận, xem xét tình hình để bổ sung lực lượng kịp thời cho mặt trận. Đối với trường hợp không còn khả năng chiến đấu thì được chuyển viện tuyến sau.

Nhờ tổ chức hệ thống chữa trị, vận chuyển thương hợp lý, khoa học, đồng thời có sự tham gia của nhiều bác sĩ ngoại khoa giỏi của quân và dân y, quân y chiến dịch đã điều trị thành công và hạn chế được nhiều biến chứng ở người bệnh như nhiễm trùng, uốn ván, hoại tử; đặc biệt tỷ lệ tử vong tương đối thấp. Ngoài nhiệm vụ thường xuyên trên, bệnh viện ông còn có nhiệm vụ sẵn sàng bổ sung lực lượng cho đội điều trị ở tuyến trước.

Không chỉ tích cực cứu chữa cho thương, bệnh binh nước nhà, quân y chiến dịch đã tổ chức cứu chữa cho gần 1.500 thương, bệnh binh của quân đội Pháp bị bắt làm tù binh, và chăm sóc cho đến khi cấp trên có chủ trương trao trả tù binh cho quân đội Pháp. Đây là một trong những chính sách khoan hồng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông viết: “Tuy khó khăn nhưng với tinh thần nhân đạo, chúng tôi đã điều trị, cung cấp đủ thuốc men, lương thực, kết hợp sử dụng đội ngũ bác sĩ và nhân viên y tế địch bị bắt làm tù binh để chữa trị cho số quân địch bị thương”.

Trong khi đang tích cực chuẩn bị mọi mặt cho các tình huống xảy ra, thì vào khoảng 17 giờ ngày 7-5, bệnh viện ông nhận được tin: Quân địch đã đầu hàng vô điều kiện. “Cả bệnh viện chúng tôi reo hò vang cả núi rừng. Sáng hôm sau, chúng tôi ra đường cái để thở bầu không khí thanh bình. Tôi thấy từng đoàn tù binh vẻ mặt ủ rũ, mệt mỏi, chân đất lếch thếch đi. Tổng kết Chiến dịch Điện Biên Phủ, lực lượng quân y chiến dịch đã cứu chữa cho hơn 10.000 thương binh, gần 4.500 bệnh binh”, ông viết.

Khép lại những trang hồi ký về Chiến dịch Điện Biên Phủ của ông Nguyễn Trung Lựu, chúng tôi vô cùng trân trọng, biết ơn và thấu hiểu sự cống hiến, hy sinh của lực lượng quân y. Mặc dù không trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng họ đã góp phần to lớn vào Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Trực tiếp đi sưu tầm hiện vật cuốn hồi ký của ông Nguyễn Trung Lựu, Trung tá QNCN Hà Quang Thắng, Phụ trách công tác nghiên cứu, sưu tầm, Bảo tàng Lực lượng Vũ trang Việt Bắc Quân khu 1 chia sẻ: “Tôi may mắn có cơ hội làm việc và trò chuyện cùng ông Nguyễn Trung Lựu. Hôm đó, tôi được nghe toàn bộ hồi ức của ông về Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tuy tuổi đã cao, nhưng ông vẫn minh mẫn, lời kể của ông hoàn toàn khớp với những trang hồi ký ông viết năm xưa. Cuốn hồi ký của ông không những góp phần bổ sung, sáng tỏ những hình ảnh đẹp của bộ đội ta trong chiến dịch, mà còn có giá trị tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ hiểu được những cống hiến, hy sinh của những thế hệ đi trước cho Tổ quốc”.

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông tiếp tục học và tốt nghiệp lớp bác sĩ y khoa; rồi làm công tác quân y tại nhiều chiến trường với nhiều cương vị khác nhau. Tháng 1-1983 ông đảm nhiệm cương vị Giám đốc Bệnh viện Quân y 91. Tháng 4-1984 ông nghỉ hưu tại địa phương (phường Ba Hàng, TP Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên). Ông là cán bộ tiền khởi nghĩa, thương binh nhiễm chất độc hoá học; tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, chống cuộc tiến công biên giới phía Bắc tháng 2-1979; được nhận Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng và là Thầy thuốc ưu tú.

Với những cống hiến không ngừng nghỉ, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì, cùng nhiều huân chương và phần thưởng cao quý khác. Đặc biệt, tháng 1-2023, ông vinh dự được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tới nhà thăm hỏi, động viên. Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư đã ân cần hỏi thăm sức khỏe ông; đồng thời khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn ghi nhớ những công lao to lớn mà các thế hệ đi trước đã cống hiến, hy sinh trong các cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn