Cựu chiến binh

Hồi ký Cựu chiến binh Triệu Đức Vi: Đám cưới thời chiến và nẻo đường hành quân xa

Hồi ký Cựu chiến binh Triệu Đức Vi và câu chuyện Đám cưới thời chiến và nẻo đường hành quân xa

Quảng Ninh24/12/2025Nguyễn Đức Mạnh (BCH Đoàn xã Lương Minh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hồi ký Cựu chiến binh Triệu Đức Vi: Đám cưới thời chiến và nẻo đường hành quân xa

Nhân vật: Cựu chiến binh Triệu Đức Vi, sinh năm 1954, thường trú tại Thôn Bãi Liêu, xã Lương Minh

1. Đám cưới “không tìm hiểu” và người vợ Tào khang (1981): Năm 1981, khi đang làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, bác Vi (lúc này khoảng 27-28 tuổi) được đơn vị cho về nghỉ phép thăm quê.

Lần về phép này trở thành một cột mốc lớn trong đời ông, nhưng không phải do một chuyện tình lãng mạn mà xuất phát từ mong mỏi của gia đình. Bố mẹ ông (bố ông khi đó là cán bộ xã) thấy cảnh gia đình khó khăn, các con trai đi biền biệt, ông bà tuổi cao sức yếu không có người đỡ đần nên giục ông lấy vợ gấp.

Bác Vi hóm hỉnh kể lại rằng chuyện tình cảm của mình hoàn toàn “không có tán tỉnh” gì cả. Tất cả là do ông bà, cha mẹ giới thiệu và sắp đặt.

Người bạn đời của bác là bà Bàn Thị Năm, sinh năm 1963, là người dân tộc Dao, quê ở xã Đồng Sơn (xã Giáp ranh Lương Mông khi đó, nay 2 xã đã sát nhập thành xã Lương Minh).

Đám cưới diễn ra chóng vánh theo kiểu thời chiến. Từ lúc dạm hỏi đến lúc cưới chỉ vỏn vẹn trong vòng một tháng. Hai người chưa kịp tìm hiểu sâu sắc, chỉ nghe theo sự sắp xếp của cha mẹ: “Thấy lấy được thì lấy đi, chứ thời gian đâu mà kén chọn” bác nói.

3. Hành trình trả phép: Từ đường mòn Ba Chẽ đến biên giới Thái Lan. Cưới vợ xong chưa được bao lâu, hết thời gian nghỉ phép, người lính Triệu Đức Vi lại phải khoác ba lô lên đường sang Campuchia. Hành trình từ quê nhà Quảng Ninh trở lại chiến trường những năm 80 là một chặng đường gian nan, kéo dài gần 2 tuần lễ qua đủ mọi loại phương tiện thô sơ đến hiện đại.

Bác Vi nhớ lại lộ trình di chuyển chi tiết như sau:

• Chặng 1 (Đi bộ): Từ nhà ở xã Lương Mông đi ra huyện Ba Chẽ phải đi bộ mất một ngày đường (khoảng 6 tiếng). Ông phải mang theo cơm nắm để ăn dọc đường vì xe cộ chưa có.

• Chặng 2 (Xe khách): Từ huyện Ba Chẽ bắt xe khách ra Hòn Gai. Mỗi ngày chỉ có đúng một chuyến xe.

• Chặng 3 (Xe khách tiếp): Từ Hòn Gai lại bắt xe lên Hà Nội. Chặng này mất thêm một ngày nữa.

• Chặng 4 (Tàu hỏa): Từ Hà Nội, ông lên tàu hỏa vào miền Nam. Chuyến tàu Thống Nhất thời đó chạy mất 3 ngày 3 đêm mới vào đến Sài Gòn.

• Chặng 5 (Hành quân sang K): Từ miền Nam, ông tiếp tục di chuyển sang biên giới Campuchia. Để đến được đơn vị đóng quân (gần biên giới Thái Lan), ông phải đi mất thêm khoảng 2 ngày nữa.

Tổng cộng, để đi từ nhà sang đến đơn vị, ông mất khoảng 9-10 ngày ròng rã.

4. Nỗi niềm xa cách và sự hy sinh thầm lặng: Cưới nhau năm 1981, nhưng vì nhiệm vụ quốc tế cao cả, vợ chồng bác Vi phải chịu cảnh xa cách biền biệt.

Sau đám cưới và chuyến đi trả phép ấy, mãi đến năm 1983, tức là 2 năm sau, bác mới được về thăm nhà lần thứ hai. Cũng chính vì sự xa cách này mà phải đến năm 1984, hai bác mới đón con trai đầu lòng (anh Tề) chào đời - tức là 3 năm sau ngày cưới.

Câu chuyện về đám cưới vội và những chuyến đi phép hiếm hoi ấy là minh chứng cho sự hy sinh thầm lặng không chỉ của người lính nơi tiền tuyến mà còn của những người vợ, người mẹ dân tộc Dao nơi hậu phương mòn mỏi chờ chồng.

Thực hiện: Ban Chấp hành Đoàn xã Lương Minh - Đề án "Câu chuyện thời hoa lửa" #ThanhNienLuongMinh #TinhYeuThoiChien #CCBTrieuDucVi

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn