Hồi ký Cựu chiến binh Triệu Đức Vi: Từ cậu học trò Ba Chẽ đến người lính Tây Nguyên
Hồi ký Cựu chiến binh Triệu Đức Vi và câu chuyện Từ cậu học trò Ba Chẽ đến người lính Tây Nguyên
Hồi ký Cựu chiến binh Triệu Đức Vi: Từ cậu học trò Ba Chẽ đến người lính Tây Nguyên
Nhân vật: Cựu chiến binh Triệu Đức Vi, sinh năm 1954, thường trú tại Thôn Bãi Liêu, xã Lương Minh
1. Xếp bút nghiên lên đường khi trường lớp tan hoang (1971): Cựu chiến binh Triệu Đức Vi sinh ngày 17 tháng 5 năm 1954, quê tại xã Lương Mông, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
Năm 1971, khi ông đang là học sinh tại trường huyện Ba Chẽ, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt miền Bắc. Trường học bị giải tán, học sinh phải sơ tán về địa phương. Khi ấy, chàng thanh niên Triệu Đức Vi mới khoảng 16-17 tuổi, chưa đủ tuổi nhập ngũ theo quy định. Tuy nhiên, trước cảnh nước nhà nguy nan, ông đã tình nguyện viết đơn xin nhập ngũ.
Ban đầu, ông tham gia lực lượng bộ đội địa phương bảo vệ huyện Ba Chẽ. Đến năm 1972, ông được chuyển sang Hải Dương để huấn luyện tập trung, chuẩn bị cho hành trình “đi B” vào Nam chiến đấu.
2. Bỡ ngỡ nơi chiến trường và bài học đầu đời của người lính (1973): Năm 1973, sau khi hoàn tất huấn luyện, đơn vị ông hành quân vào miền Nam và đóng quân tại khu vực Buôn Ma Thuột,.
Là lính mới, chưa từng trải qua chiến đấu thực tế, bác Vi thật thà kể lại nỗi sợ hãi trong những ngày đầu: “Nghe tiếng pháo cũng sợ rồi”. Khi ấy, các chú, các anh lính già dặn kinh nghiệm phải chỉ bảo tận tình: “Cứ nghe tiếng đề-pa (tiếng nổ đầu nòng) thì phải biết đường mà nhảy xuống hầm ngay”. Nhờ những bài học sinh tử đó, chàng lính trẻ dần dạn dày hơn nơi hòn tên mũi đạn.
3. Nhiệm vụ “chốt giữ” và cuộc sống tự cấp tự túc giữa đại ngàn Tại Tây Nguyên, đơn vị của ông (gồm một đại đội phối hợp với tiểu đoàn đặc công) nhận nhiệm vụ đánh các chốt địch ven đường 14 và “chốt giữ” vùng giải phóng. Nhiệm vụ là bảo vệ đất đai, không cho địch lấn chiếm, theo nguyên tắc: “Đất của mình mình phải giữ, đất của nó nó giữ”.
Cuộc sống của người lính Tây Nguyên những năm 1973-1975 vô cùng gian khổ và thiếu thốn:
• Chuyện ăn uống: Khi tiếp tế chưa tới, bộ đội thường xuyên bị đói. Ông và đồng đội phải ăn đậu xanh, ăn ngô thay cơm. Để sinh tồn, họ phải vào rừng hái mít, xuống suối bắt cá.
• Sản vật rừng: Rừng Tây Nguyên ngày ấy trù phú, suối dày đặc cá và thú rừng rất nhiều. Bác Vi kể lại kỷ niệm săn được những con cheo (loài thú nhỏ giống con hoẵng) để cải thiện bữa ăn.
• Ký ức về cà phê: Đóng quân trên vùng đất đỏ Bazan, nơi có những đồn điền cà phê bạt ngàn từ thời Pháp thuộc hoặc do dân để lại khi chạy loạn, bộ đội ta đã tận dụng nguồn nguyên liệu này. Bác Vi nhớ lại cảnh anh em lính tráng đi hái cà phê về rang xay để uống giữa rừng.
Về vấn đề chất độc da cam, bác Vi chia sẻ rằng dù Buôn Ma Thuột là vùng chiến sự ác liệt và có bom đạn, nhưng khu vực bác đóng quân may mắn ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của chất độc hóa học. Bác tự nhận mình là bệnh binh chứ không phải nạn nhân da cam, dù nhiều đồng đội ở các đơn vị khác trong xã đã không may mắn như vậy.
4. Chiến dịch mùa Xuân và hành trình về miền Tây (1975): Tháng 3 năm 1975, Chiến dịch Tây Nguyên mở màn. Đơn vị của bác Vi tham gia đánh các chốt ngoại vi để phối hợp với quân chủ lực giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột vào tháng 3 năm 1975.
Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, đơn vị ông không dừng lại mà tiếp tục hành quân xuôi về phương Nam. Từ vùng “Miền Đông” đất đỏ, ông tiến về “Miền Tây” sông nước (khu vực Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ...) để tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Thực hiện: Ban Chấp hành Đoàn xã Lương Minh - Đề án "Câu chuyện thời hoa lửa" #ThanhNienLuongMinh #KyUcNguoiLinh #CCBTrieuDucVi



