HỒI ỨC NGƯỜI LÍNH
Thông tin nhân chứng Họ và tên: Nhâm Mạnh Hùng Ngày sinh:18/8/1948 Quê quán: thôn Thanh Long, xã Nam Đông Hưng, tỉnh Hưng Yên Quá trình cống hiến: Ông đi bộ đội từ năm ông mười bảy tuổi (1965) đến cuối năm một chín sáu sáu thì ông được kết nạp vào Đảng bộ Đảng Việt Nam. Đến hôm nay thì kể từ ngày nhập ngũ ông đã tròn sáu mươi năm rồi.Sáu mươi năm qua ông đã từng chứng kiến rất nhiều những cái giai đoạn thăng trầm của dân tộc ta, đặc biệt là thời kỳ toàn Đảng, toàn dân
Ảnh: cựu chiến binh Nhâm Mạnh Hùng cùng học sinh thực hiện
Trong những năm tháng lịch sử hào hùng nhưng đầy gian khổ ấy, khi đất nước ta còn chìm trong khói lửa chiến tranh, đế quốc Mỹ đã áp đặt lên dân tộc Việt Nam một chế độ vô cùng tàn bạo. Họ đưa nửa triệu quân Mỹ cùng hàng triệu lính ngụy vào miền Nam, âm mưu chia cắt đất nước ta thành hai miền vĩnh viễn. Cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc kéo dài suốt từ năm 1954 đến năm 1975 – ba mươi mốt năm trường kỳ, ác liệt. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, toàn dân ta đã đứng lên chiến đấu và làm nên thắng lợi lịch sử ngày 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Cuộc đời của ông – người kể lại câu chuyện – gắn liền với những chặng đường gian lao ấy. Ông từng có mặt ở những bến phà trọng điểm, nơi công binh và dân công ngày đêm vận chuyển bộ đội, lương thực, vũ khí từ Quảng Bình, Quảng Trị vào chiến trường miền Nam. Ban đêm, pháo sáng, bom đạn dội xuống như mưa; máy bay địch gầm rú trên đầu. Mỗi khi máy bay tới, mọi người tạm lánh, nhưng vừa yên tiếng động cơ, họ lại lập tức trở về vị trí, tiếp tục nhiệm vụ. Dù có hi sinh, dù có thương tích, ý chí chiến đấu vẫn không bao giờ phai nhạt.
Ông nhớ mãi hình ảnh anh Ngô Văn Dung, người Thanh Hóa, bằng tuổi ông. Trong một trận bom, anh bị thương đứt tay nhưng vẫn kiên quyết không rời nhiệm vụ. Anh tự nhờ đồng đội băng lại vết thương và tiếp tục lấp hố bom, thông đường cho xe qua, noi gương tinh thần quả cảm của anh hùng La Văn Cầu trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Một tấm gương khác là anh Luân – người Hà Nội. Khi nhiệm vụ phá bom từ trường trở nên cấp bách, anh đã cùng đồng đội chế những tấm kim loại từ thùng phi, kéo quét trên mặt đất để kích nổ bom từ xa. Suốt ba ngày ba đêm gần như không ngủ, anh cùng mọi người kiên trì làm việc, bất chấp hiểm nguy rình rập, chỉ với một mục đích: giữ cho con đường tiếp viện luôn thông suốt.
Những câu chuyện ấy không chỉ kể về chiến tranh, mà còn kể về lòng dũng cảm, tinh thần hy sinh và ý chí quật cường của những con người bình dị đã góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.
Trong những năm tháng khốc liệt ấy, ông và đồng đội tuy không trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng lại đảm nhận nhiệm vụ phục vụ chiến đấu vô cùng gian khổ và nguy hiểm. Suốt năm năm, từ 1966 đến 1971, ông tham gia mở đường, vận chuyển, phá bom, giữ cho những tuyến chi viện luôn thông suốt. Chính những công việc thầm lặng mà quan trọng ấy đã góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhờ những thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, sau này ông được cử đi học sĩ quan và trở thành sĩ quan cấp tá. Đến nay, khi đã về hưu, ông sống thanh thản bên gia đình, nhận mức lương đủ đầy – phần thưởng xứng đáng cho cả một đời cống hiến.



