Hồi ức về người anh hùng "Tay súng thần"
HỒI ỨC VỀ NGƯỜI ANH HÙNG “TAY SÚNG THẦN”
Có những cái tên khi nhắc đến, người ta nghĩ ngay đến
những phát súng vang rền, những chiến công oanh liệt làm
khiếp đảm quân thù. Nhưng cũng có những cái tên, khi đi
qua bão táp chiến tranh, lại đọng lại trong lòng người đương
thời một nét vẽ thật hiền, thật mực thước và giản đơn.
Huỳnh Văn Đảnh chính là một con người như thế – một "vị
thần bắn súng" trên chiến trường Long An và một "học viên
đặc biệt" với nỗ lực phi thường trên bục giảng thời bình.
Cuộc đời anh là một bản giao hưởng có đủ những nốt thăng
trầm: từ kiếp đi ở đợ tủi nhục đến danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân, và từ những trận đánh "xuất quỷ nhập thần" đến những giờ học chính tả đầy
mồ hôi trên đất Bắc.
Sinh năm 1939 tại mảnh đất Tân Trụ, Long An, cuộc đời Huỳnh Văn Đảnh khởi
đầu bằng những gam màu xám xịt của sự nghèo khó. 9 tuổi đầu, cái tuổi đáng lẽ
được nâng niu, anh đã phải đi ở đợ, nếm trải mọi đắng cay của xã hội phân chia
giai cấp. Chính sự đè nén của bộ máy cai trị Ngô Đình Diệm đã tôi luyện trong
anh một ý chí phản kháng mãnh liệt. 16 tuổi giác ngộ cách mạng, 21 tuổi gia
nhập du kích xã Đức Tân, anh bắt đầu viết nên huyền thoại về một "nhà thiện
xạ".
Lịch sử quân sự vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ vẫn còn lưu truyền con số thống kê
kinh ngạc: Chỉ với 75 viên đạn, Huỳnh Văn Đảnh đã hạ 78 tên địch. Nghệ thuật
bắn súng của anh không chỉ là kỹ thuật, mà là sự chắt chiu từng giọt máu của
đồng bào, từng đồng tiền bát gạo của nhân dân nuôi quân. Mỗi viên đạn rời
nòng là một lời sấm truyền của công lý. Trận đánh ngày 13/6/1963 mãi mãi là
bài học về lòng quả cảm: hai người du kích đối đầu cả tiểu đoàn, riêng anh bắn 8
viên diệt 9 tên nhờ một cú "xuyên táo" thần sầu.
Anh không chỉ biết đánh giặc, anh còn biết thương dân. Hình ảnh anh cùng chi
bộ vận động nhân dân làm lại 90 ngôi nhà ngay trong đêm sau trận càn của địch
năm 1962 đã khắc họa chân dung một người Đảng viên mẫu mực: Chiến đấu để
bảo vệ, và hành động để hồi sinh.
2
Sau những năm tháng vào sinh ra tử, năm 1966, người Anh hùng ấy được đưa ra
Bắc học tập tại một ngôi trường do Tổng cục Chính trị quản lý. Đây là lúc một
chương mới trong cuộc đời anh mở ra – chương của sự khiêm nhường và tinh
thần cầu thị.
Nếu trên chiến trường, Huỳnh Văn Đảnh là bậc thầy về địa hình và súng đạn, thì
trên giảng đường, anh lại trở thành một "tân binh" đầy bỡ ngỡ. Thầy giáo
Nguyễn Đỗ đã ghi lại những kỷ niệm xúc động về người học viên đặc biệt này.
Ngay giờ chính tả đầu tiên, người anh hùng từng diệt hàng trăm tên giặc lại lúng
túng trước những con chữ: “Sao học khó quá, nghe thầy giáo đọc mà tôi không
thể viết được.”
Những lỗi chính tả ở các từ “và, về, ruộng, rồi…” không phải vì anh thiếu thông
minh, mà bởi cái chất giọng Nam Bộ đặc sệt đã ăn sâu vào máu thịt. Phụ âm sai,
vần sai – đó là dấu ấn của một người con sinh ra từ bùn đất Long An, suốt đời
chỉ quen cầm súng hơn cầm bút. Nhưng với bản tính cần cù, dưới sự dìu dắt tận
tình của thầy Đỗ – một người con Mỹ Tho đồng hương – anh đã kiên trì uốn nắn
từng phát âm chuẩn, sửa từng nét chữ. Hình ảnh người Anh hùng luống tuổi cặm
cụi bên trang giấy trắng cũng đẹp và thiêng liêng chẳng kém gì lúc anh ngắm
bắn quân thù.
Kỷ niệm đẹp nhất trong những năm tháng học tập ấy có lẽ là bữa tiệc thịt cầy
nấu theo kiểu Nam Bộ. Để thết đãi các thầy giáo miền Bắc, anh Đảnh và anh
Nguyện đã không quản ngại lặn lội về tận Hà Nội để tìm cho bằng được dừa
nạo, củ xả, lá mơ và đặc biệt là ngũ vị hương – những thứ gia vị mà ở vùng Đại
Từ (Thái Nguyên) lúc bấy giờ thật khó kiếm.
Dưới bàn tay tài hoa của "đầu bếp" Đảnh, món thịt cầy mang hương vị phương
Nam đã trở thành chiếc cầu nối tâm hồn giữa những người con hai miền Nam –
Bắc. Giữa rừng núi Việt Bắc, mùi mắm tôm thơm lừng hòa quyện cùng tiếng
cười hể hả của các thầy đồ nghệ, thầy giáo miền Nam đã tạo nên một không gian
ấm cúng, xóa tan ranh giới giữa thầy và trò, giữa anh hùng và giáo viên.
Nụ cười hiền hậu của anh khi thấy các thầy ăn ngon miệng, khi nghe vế đối hóm
hỉnh của thầy Cừ và thầy Đỗ: “Cụ Tô đang ăn thịt tô – Thầy Đỗ vừa gặm xương
đổ” là minh chứng cho một tâm hồn trong sáng, chân thành. Anh vui không phải
vì mình nấu ngon, mà vui vì cảm nhận được tình đồng chí, nghĩa thầy trò nồng
hậu.
3
Ngày 13/5/1971, người anh hùng ấy đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ sau
những năm tháng tận hiến. Anh hy sinh khi hoài bão về một ngày đất nước hoàn
toàn thống nhất vẫn còn dang dở. Nhưng Huỳnh Văn Đảnh không mất đi, anh
hóa thân vào con đường, vào ngôi trường Tiểu học mang tên anh ở Tân Trụ.
Nếu chiến công của anh là những nốt nhạc trầm hùng của bản hùng ca giữ nước,
thì những ngày tháng học tập trên đất Bắc lại là những nốt lặng thanh khiết, làm
trọn vẹn chân dung một con người: Dũng mãnh trước kẻ thù, khiêm nhường
trước tri thức và ấm áp với đồng đội.
Đọc lại những dòng hồi ký của thầy giáo Nguyễn Đỗ và nhìn lại cuộc đời Anh
hùng Huỳnh Văn Đảnh, mỗi chúng ta – những học sinh của thế hệ mới – không
khỏi tự soi lại mình. Anh dạy chúng ta rằng: Học tập cũng là một trận đánh, và
người anh hùng thực sự là người biết cúi mình trước cái mới để vươn cao hơn.
Anh hùng Huỳnh Văn Đảnh đã đi xa, nhưng nụ cười hiền hậu sau bữa cơm
nghĩa tình năm ấy và những đường đạn chính nghĩa của anh sẽ mãi là ngọn lửa
sưởi ấm tâm hồn bao thế hệ. Long An tự hào về anh, và lịch sử dân tộc sẽ mãi
dành một trang trang trọng nhất để viết về người thiện xạ có trái tim nhân hậu
ấy.
Dòng Vàm Cỏ vẫn trôi, tên anh vẫn rạng ngời trên biển bảng trường học, con
đường, nhắc nhở chúng ta về một thời hoa lửa và một nhân cách cao đẹp đã hóa
thân thành hồn thiêng sông núi.



