Hồi ức về những năm tháng hào hùng
Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, LLVT Thanh Hóa vừa chiến đấu bảo vệ quê hương, vừa cùng Nhân dân trong tỉnh dồn lực chi viện sức người, sức của cho các chiến trường. Đặc biệt, trong Chiến dịch Ðiện Biên Phủ lịch sử, LLVT Thanh Hóa từ miền biển đến miền núi đã bước vào trận tuyến với khí thế sục sôi, góp phần làm nên chiến công “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và được Bác Hồ khen ngợi “Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Ðiện Biên Phủ đến đó. Tiếng Ðiện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh dự đến đó”.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, LLVT Thanh Hóa đã anh dũng bám đất, bám làng, phối hợp với các đơn vị bộ đội chủ lực đánh trả quyết liệt các đợt tập kích, bắn rơi nhiều máy bay, bắn cháy, bắn chìm nhiều tàu biệt kích của địch, bảo vệ thành quả xây dựng CNXH ở miền Bắc. Không chỉ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên mảnh đất quê hương, với tinh thần “Sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, hơn 20 vạn thanh niên Thanh Hóa đã hăng hái lên đường nhập ngũ, tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường, đóng góp vô cùng to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa non sông nối liền một dải, Bắc – Nam sum họp một nhà. Trong khúc khải hoàn ca chiến thắng của toàn dân tộc, LLVT Thanh Hóa đã vinh dự được Ðảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT Nhân dân.
Để được cảm nhận hơi thở của một thế hệ anh hùng đã từng đi qua những năm tháng lịch sử ấy, tôi tìm gặp cụ ông Lê Văn Đàn, phường Tân Sơn (TP Thanh Hóa), người đã kề vai sát cánh cùng đồng đội trực tiếp chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng. Cụ Đàn năm nay tròn 80 tuổi, đôi lúc có quên đi một vài ký ức xa xưa, nhưng khi nhắc đến chiến thắng Hàm Rồng – Nam Ngạn, nhắc đến những trận đánh lịch sử trên mảnh đất quê hương mình, sức sống lại căng tràn lạ thường, hiện rõ trên nét mặt phấn chấn và cả trong những câu chuyện ông kể. Tôi mở lời về cuộc chiến ngày 3 và 4/4/1965, rồi cụ kể cho tôi nghe bằng tất cả những ký ức, những dòng cảm xúc của một người từng sống và trực tiếp chiến đấu.
Cụ Đàn kể: “Đầu năm 1965, đơn vị tôi được lệnh hành quân về tham gia chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng. Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ của đơn vị tôi có 3 đại đội pháo 37 ly và 1 đại đội pháo 14,5 ly. Tôi là chiến sĩ phụ trách máy đo xa (đo cự ly của máy bay địch để xác định mục tiêu, tầm ngắm), dù không trực tiếp đạp cò bắn nhưng nhiệm vụ của tôi cũng rất quan trọng, bởi nếu đo sai cự ly thì pháo của ta sẽ không thể bắn trúng máy bay địch. Trong trận chiến bảo vệ cầu Hàm Rồng, bộ đội ta sử dụng cùng lúc cả 3 loại pháo, trong đó pháo 57 ly bắn ở tầm xa, pháo 37 ly bắn ở tầm trung và pháo 14,5 ly bắn ở tầm thấp nên máy bay Mỹ bị trúng đạn rất nhiều. Cầu Hàm Rồng nằm trên một dải địa hình hết sức phức tạp, hai bên là núi Rồng và núi Ngọc đứng án ngữ khiến máy bay địch rất khó ném bom. Đánh cầu Hàm Rồng không được, chúng quay sang đánh các trận địa hòng ngăn chặn sự đáp trả bằng hỏa lực phòng không của quân đội ta”.
Khi được hỏi về ấn tượng sâu sắc nhất của cụ trong 2 ngày chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng, cụ Đàn trầm tư bảo: “Ngày 3 và 4/4 ác liệt ấy, có nhiều khoảnh khắc đáng nhớ lắm cháu ạ. Nhưng tôi nhớ mãi hành động vô cùng dũng cảm của pháo thủ số 2, tuổi đời mới đôi mươi. Trong lúc làm nhiệm vụ, pháo thủ số 2 bị thương xuyên qua bụng, dù rất đau đớn nhưng anh vẫn dành hơi thở cuối cùng của mình để đạp cò bắn. Đến khi anh ngã xuống, người tiếp theo nhảy vào đạp cò bắn tiếp. Sự hy sinh anh dũng của pháo thủ số 2 đã cổ vũ mạnh mẽ cho đồng đội ta thi đua giết giặc lập công”.



