Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Hồi ức về sư đoàn phòng không cận vệ đỏ

Thiếu tướng Trần Văn Giang, nguyên Phó tư lệnh về chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Hải quân, nhưng đã từng công tác ở Binh chủng Pháo binh, nhất là có thời gian dài gắn bó với Quân chủng Phòng không - Không quân. Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc, với cương vị Chính ủy Sư đoàn Phòng không 361- Sư đoàn phòng không Cận Vệ Đỏ, bảo vệ thủ đô Hà Nội, đồng chí đã góp phần lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn phối hợp, hiệp đồng cùng các đơn vị, địa phương bắn rơ

Lai Châu03/07/2026Thiếu tướng Trần Văn Giang (xã sìn hồ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Cuộc hành quân đầu tiên đến với nhiệm vụ bảo vệ bầu trời
Chiến dịch Đông Xuân 1952 - 1953 ta thắng lớn. Cả vùng Tây Bắc rộng lớn dược giải phóng. Tôi đang là Phó chủ nhiệm chính trị Đại đoàn 316 đóng quân tại vùng Sơn La thì có lệnh gọi về Bộ gấp đi làm nhiệm vụ mới. Lúc này cơ quan Bộ đóng ở vùng chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Anh Chu Huy Mân và Phòng Chính trị Đại đoàn 316 lưu luyến tiễn và cho tôi mượn xe đạp để đi cho nhanh. Lại cử đồng chí Quận đi theo giúp đỡ và bảo vệ, phòng bất trắc. Ngoài biệt kích thổ phỉ ra hồi này động rừng, hổ đói hay lang thang kiếm mồi, đã nhiều lần giữa ban ngày nhảy ra vồ bò, vồ cả dân công.

Một cuộc hành quân cấp tốc gồm hai người, hai ba lô, hai bi-đông nước, hai túi lương khô, một súng ngắn, một cạc-bin và một xe đạp! tất cả trên chiếc xe đạp hồi đó không có đèo hàng. Hai anh em thay nhau gò lưng đạp. Gió tây bắc lạnh căm căm mà hai anh em mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Đường rừng núi Tây Bắc mới giải phóng lúc này rất vắng vẻ. Có khi đi hàng giờ chả gặp một người. Vừa đạp xe, tôi vừa bàn với Quận những động tác chiến đấu cần thiết khi gặp biệt kích và hổ.

Cảnh núi rừng dọc đường sao mà đẹp! Sương chiều buông sớm xuống các dãy núi, rừng cây phủ một màu xanh lam bàng bạc. Hàng cây bên đường gió thổi ngả nghiêng như lưu luyến vẫy tiễn tôi lên đường! Đèo cao, dốc xuống, suối reo rồi lại đèo cao, trùng trùng điệp điệp… Đến cao nguyên Châu Mộc thì tối, sương xuống đầy trời phủ màu xanh thẫm lên cây cỏ và cả mặt đường. Phải vào hang Xồm Lồm nghỉ.

Việc đầu tiên là nhặt củi đốt để chống cái lạnh thấu xương. Có ánh lửa rồi chọn tìm chỗ nằm an toàn nhất. Vơ lá vào làm giường hai anh em ngủ chung. Hơ cái bi-đông nước lên lửa để uống cho ấm bụng, mở lương khô ra ăn. Vừa ăn vừa trao đổi thêm về vị trí chiến đấu trong đêm. Giấc ngủ chập chờn nhưng cũng chợp được những lúc rất ngon. Gần sáng lạnh quá. Lạnh từ xương sống, cứ run cả người không ngủ được nữa, hai hàm răng cứ phải nghiến chặt. Cũng đã hơn 4 giờ sáng, dậy lấy đám lá nằm ra đốt dần cho đỡ cóng và lại hơ bi-đông lên đun nóng nước uống cho ấm bụng. Làm mỗi người một miếng lương khô rồi lại hăm hở lên đường. Cảnh Sơn La, rồi Hòa Bình, rồi Phú Thọ, Tuyên Quang lùi nhanh sau những bánh xe quay!

Gần đến đèo Khế thì gặp anh Nguyễn Hải, đang ngồi uống nước trong quán dọc đường. Anh gọi tôi lại, hăm hở kéo tôi ra thật xa chỗ quán nước có người rồi mới ghé tai tôi lộ bí mật:

- Chúc mừng Văn Giang! Cậu được chọn đi học nước ngoài chuẩn bị thành lập D.C.A.

Rồi anh trợn mắt giơ tay: một tiểu đoàn đã 36 ki-lô-mét giây điện thoại rồi! Mà sáu tiểu đoàn cơ giới hóa tất! Hành quân cả trung đoàn dài hàng chục cây số! Hiện đại lắm!

Bắt tay cám ơn anh, tôi lại hăm hở lên đường đạp về Bộ. Các anh ở Cục Cán bộ và Cục Tổ chức cho biết:

- Đoàn hơn một trăm cán bộ đi học cao xạ pháo ở Trung Quốc do anh Nguyễn Quang Bích làm trưởng đoàn đã lên đến Thẩm Dương. Anh Văn Giang làm Chính trị viên, bí thư chi bộ, cần đi đuổi gấp.

Qua các anh tôi được biết Bác Hồ trong dịp qua Liên Xô làm việc với Xta-lin, đã đề nghị Liên Xô giúp trang bị một trung đoàn pháo cao xạ. Nhờ uy tín của ông Cụ mà Liên Xô nhận giúp về vũ khí, còn Trung Quốc nhận giúp đỡ đào tạo cán bộ và chiến sĩ cho trung đoàn này.

Nghe tin, tôi rất phấn khởi và sốt ruột xin đi ngay, đỡ muộn học nhiều quá. Tôi sang Văn phòng Tổng cục Chính trị tìm gặp đồng chí Huân xin cuốn Việt Hoa đối thoại loại nhỏ, bỏ túi mang đi phòng thân, chắc chắn là sẽ cần dùng đến.

Chiều hôm đó, ra khỏi cơ quan Bộ tôi mời đồng chí Quận về chỗ nhà tôi sơ tán cách đấy khoảng gần 20 ki-lô-mét. Sau khi đứa con đầu lòng của chúng tôi qua đời, vợ tôi xin vào công tác tại Ban Quân y Đại đoàn 316. Đi chiến dịch Tây Bắc 1952 - 1953. Sau khi giải phóng Sơn La, vợ tôi được về hậu phương nghỉ vì bụng to, thai đã sáu, bảy tháng. Để vợ yên tâm chuẩn bị vượt cạn một mình, tôi đã nói với vợ là sắp đi công tác nước ngoài khoảng một hai năm. Sáng sớm hôm sau cuộc hành quân, hai người đèo xe đạp lại tiếp tục từ đường 3 vượt ngang qua Bình Gia, Bắc Sơn sang đường 1. Qua Lạng Sơn, Kỳ Lừa lên thẳng Đồng Đăng. Đến trước Hữu nghị quan tôi lưu luyến và xúc động chia tay em Quận, cám ơn em đã vì tôi mà vất vả mấy ngày đường. Cho em hai ngày phép về thăm gia đình ở Cao Bằng, sau đó mang xe đạp về trả và cám ơn Phòng Chính trị Đại đoàn 316.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Hồi ức về sư đoàn phòng không cận vệ đỏ« Trả lời #2 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2016, 07:17:02 am »

Chia tay Quận, tôi xốc ba lô bước vào Hữu nghị quan, đi bộ thẳng một mạch lên Bằng Tường cách biên giới khoảng ba, bốn giờ đi bộ tìm vào bộ phận tiền trạm của Biện xự xứ Việt Nam ở Nam Ninh. Các đồng chí đãi tôi một bữa cơm và mua cho tôi một vé xe lửa lên thành phố Nam Ninh. Gọi điện thoại cho cơ quan Biện xự xứ Việt Nam ở Nam Ninh ra đón tôi ở sân ga xe lửa.

Các đồng chí ở Biện xự xứ Việt Nam và Biện xự xứ Trung Quốc ở Nam Ninh cho biết phải chờ khoảng bảy, tám ngày nữa mới có một cán bộ Giải phóng quân Trung Quốc biết tiếng Việt Nam và biết đường đi dẫn tôi lên thành phố Thẩm Dương, đông bắc Trung Quốc. Tôi không vui khi nghe tin này! Cán bộ Giải phóng quân không biết tiếng Việt cũng được, miễn là biết đường đi và chỗ đến!

Khoảng ba giờ sau đó đồng chí Lý Dinh Trưởng (tiểu đoàn trưởng họ Lý) được giới thiệu sang dẫn tôi lên Bắc Kinh, giao tôi cho Bộ Tư lệnh Pháo binh Trung Quốc. Tôi được bố trí ngồi ở một toa xe tương đối lịch sự. Đồng chí Lý thì ngồi toa sau. Ngoài ba bữa ăn và lúc ngủ ra, tôi toàn sang ngồi .với Lý Dinh Trưởng và thực hành tập nói và nghe tiếng Trung Quốc (theo cuốn Việt Hoa đối thoại mang theo). Cả nói ngọng, cả viết chữ nho sai, cả vẽ tranh và cả làm hiệu tay khi cần! Tôi và Lý Dinh Trưởng nghe và hiểu nhau rất nhanh, trao đổi được vài câu cần thiết và nhanh chóng trở thành bạn. Nghe bạn Việt Nam hay nói những từ, những câu chắp ngô nghê Lý Dinh Trưởng cười vui, thú vị lắm. Đến lúc này tôi mới thấy lợi ích to lớn của việc tôi hay lê la học mót ở lớp học của cụ đồ nho Nghệ An dạy các anh và các chú hồi tôi còn năm, sáu tuổi và cả việc tôi hay quan tâm hỏi bố tôi về những chữ trên các đôi câu đối treo ở nhà thờ gia đình, ngoài đình, đền, miếu. Lại càng yên tâm vì từ cuối năm 1950, thành lập Trung đoànSơn pháo 675, tôi đã có nhiều dịp tiếp xúc đồng chí cố vấn Trung Quốc của trung đoàn mà đôi khi không muốn phiền đồng chí phiên dịch.

*

* *
Gần đến ga Vũ Hán có mấy đồng chí Giải phóng quân Trung Quốc lên kiểm tra hành khách cùng toa tôi ngồi, một số hành khách được thương lượng rời xuống toa dưới. Một đồng chí hỏi tôi mấy câu dài, tôi không hiểu, tôi chỉ lắc đầu: "pu tửng” (chú thích: tiếng Trung Quốc nghĩa là không hiểu)

Sau cùng đồng chí hỏi mãi bí quá, tôi viết mấy chữ “vấn Lý Dinh Trưởng tại…” và chỉ tay xuống toa sau. Lý Dinh Trưởng được mời lên. Khai những gì không rõ. Các đồng chí gật đầu chào thân thiện rồi đi. Đến ga Vũ Hán, một đoàn cán bộ Giải phóng quân lên tàu. Toàn mặc đồ dạ xám, người nào cũng hồng hào, to lớn, chắc là một đoàn cán bộ cao cấp của Giải phóng quân. Người đi đầu vừa bước vào toa thì đồng chí bộ đội kiểm soát bước ra chào và báo cáo gì đấy, tay trái chỉ vào tôi. Ông này đi thẳng vào, chủ động chào và ngồi xuống ghế đối diện với tôi, dáng vẻ rất vui mừng thân thiện. Ông cười nói:

- Nỉ, Duể Nan putuây! (Đồng chí là bộ đội Việt Nam)

Tôi cũng cười chỉ vào ông:

-Nỉ Trung Quổ putuây (Đồng chí là bộ đội Trung Quốc)

Ông lại cười cầm lấy tờ giấy có máy chữ Trung Quốc tôi đang học. Rồi lấy bút viết ba chữ: Hồ Chí Minh. Tôi cũng viết hai chữ Mao . . . Đông, không viết được chữ Trạch.

Ông thân ái điền vào giữa chữ Trạch. Rồi lại viết tiếp hai chữ Trường Chinh. Tôi hí hoáy viết mãi mới xong ba chữ Lưu Thiếu Kỳ. Đồng chí cười vui chữa chỗ tôi viết sai. Rồi lại viết tiếp: Phạm Văn Đồng. Tôi bí quá không viết được chữ Chu, chữ Ân cũng quên. Ngập ngừng mãi, rồi tôichỉ vào chữ Phạm Văn Đồng và nói:

-Duê Nan tơ Chu Ân Lai (nghĩa là ông Chu Ân Lai của nước Việt Nam).

Thấy tôi dùng được chữ tơ (đích) trong một câu ngộ nghĩnh ông phá lên cười và vẫy gọi các đồng chí khác đến kể lại chuyện bút đàm của hai chúng tôi.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Hồi ức về sư đoàn phòng không cận vệ đỏ« Trả lời #3 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2016, 07:21:55 am »

Nhìn ông nói, nhất là lúc ông cười tôi chợt nhớ ra: ông này mình quen mặt rồi và tôi nghĩ ngay đến danh sách và ảnh chụp 10 vị nguyên soái Trung Quốc đã tôn vinh - đăng trong một quyển báo ảnh của Trung Quốc. Ông này nguyên soái ư? Có thể đấy! Mình phải tìm cách, hỏi cho ra mới được. Tôi xin lỗi, giả vờ có việc đi xuống toa dưới hỏi thầm Lý Dinh Trưởng:

- Tướng quân nào ngồi cạnh tôi đấy?

Lý Dinh Trưởng nói vào tai tôi:

- Tư lệnh dã chiến quân đấy!

Đúng rồi! Nguyên soái rồi! tôi hấp tấp về chỗ cầm bút viết ngay hai chữ và quan sát nét mặt ông. Ông cười đọc: Lâm Bưu! - Mặt vẫn tỉnh bơ.

Tôi lại viết hai chữ khác và quan sát nét mặt ông. Ông vẫn thản nhiên đọc: Trần Nghị. Tôi viết tiếp, lần này chỉ được một chữ Đức và khoanh tròn hai chỗ trống hai bên. Ông lại cười và thản nhiên điền thêm vào chỗ trống và đọc: Bành Đức Hoài!

Tôi hơi thất vọng - Chu Đức tôi đã nhớ mặt trong các phim thời sự. Cả Hạ Long có bộ râu mép, tôi cũng nhớ. Thế là không phải năm ông rồi! Chữ Lưu Bá Thừa thì rất khó viết. Chữ Nhiếp Vinh Trăn thì tôi chưa biết bao giờ. Bí quá tôi chỉ vào ông và bập bẹ lấy được một câu:

- Bộ đội Việt Nam rất kính trọng các đại tướng quân Trung Quốc!

Ông cười rạng rỡ rồi nhổm lên đặt hai tay vào hai vai tôi nói:

- Cám ơn! Cám ơn đồng chí Việt Nam.

Rồi ông xoay ra hỏi tôi đã có vợ chưa? Tôi gật đầu và úp hai bàn tay khum khum vào bụng ra hiệu là vợ tôi đang sắp sinh con. Ông nói một câu mà tôi chỉ nghe được ba chữ. Tôi đoán là chúc vợ tôi sinh con trai nối nghiệp bố đi bộ đội đánh đế quốc.

Sắp đến Bắc Kinh. Lý Dinh Trưởng đã thập thò ở cửa ra vào làm hiệu cho tôi. Tôi vừa rướn người lên để lấy cái ba lô thì ông đã nhanh tay cầm lấy rồi quàng ba lô vào một bên vai ông. Lý Dinh Trưởng mắt tròn xoe, lễ phép đến xin lại chiếc ba lô. Ông xua tay rồi thân mật dắt tôi xuống tàu. Ra cửa ga Bắc Kinh đã thấy hai chiếc xe của ông đến đón, nhưng ông chưa lên mà vẫn cầm tay tôi, đợi xe của Bộ Tư lệnh Pháo binh đến đón mới giao ba lô cho tôi, bắt tay chia tay tôi. Thật là ân cần, thật là chu đáo!

Xe chạy rồi tôi hỏi Lý Dinh Trưởng:

- Nguyên soái nào đấy?

Đồng chí nhìn tôi vẻ hể hả:

- Đại tướng Trần Canh dấy!

Tôi giật mình: thôi chết rồi! Đại tướng Trần Canh mà tôi đã được gặp trong bữa tiệc Bác Hồ khao quân sau chiến dịch Biên Giới đại thắng! Sao mình lại có thể vô tâm đến nỗi không nhớ ra! Nếu tôi nhớ ra và viết được hai chữ Trần Canh thì hay biết bao! tình nghĩa biết mấy! Mỗi khi nhớ lại tôi lại tự trách mình!

*

* *
Đưa tôi vào Bộ Tư lệnh Pháo binh, Lý Dinh Trưởng chào từ biệt tôi. Tôi lưu luyến tiễn đưa người thầy đầu tiên dạy tiếng Trung Quốc cho tôi, người bạn đường đã ân cần giúp tôi trên đoạn đường mấy ngàn cây số ấy. Tôi nghỉ tại Bắc Kinh một ngày. Hôm sau một đồng chí khác tên là Lưu Đoàn Trưởng (Trung đoàn trưởng họ Lưu) - dẫn tôi lên thành phố Thẩm Dương ở vùng đông bắc Trung Quốc.

Tại Trường Sĩ quan Cao xạ Thẩm Dương, chúng tôi được học tính năng và cấu tạo pháo cao xạ 37 mm, nguyên tắc chiến thuật của đại đội, của tiểu đoàn, của trung đoàn pháo cao xạ trong chiến đấu độc lập, chiến đấu hiệp đồng, và bảo vệ bộ binh trong chiến đấu tiến công, phòng ngự.

Ngày 1 tháng 4 năm 1953, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Trung đoàn Pháo cao xạ 367. 2700 cán bộ chiến sĩ tập trung tại khu rừng xã Bộc Nhiêu huyện Định Hóa - Thái Nguyên. Sau đó lên đường sang Tân Dương thuộc tỉnh Quảng Tây nhận pháo mới, chuẩn bị thao trường và chuẩn bị đón chúng tôi về.

Sau 5 tháng, lớp học chúng tôi kết thúc. Chúng tôi cùng về Quảng Tây làm khung cho các trung đội, đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn bộ. Anh Lê Văn Tri được quyết định làm Trung đoàn trưởng, anh Đoàn Phụng làm Chính ủy, các anh Nguyễn Quang Bích, Hoàng Khải Tiến làm Trung đoàn phó, anh Lê Văn Thiêm làm Trung đoàn phó - Tham mưu trưởng, anh Ngô Từ Vân, Phó chính ủy, tôi làm Chủ nhiệm chính trị, Phó chính ủy.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Hồi ức về sư đoàn phòng không cận vệ đỏ« Trả lời #4 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2016, 07:24:28 am »

Giữa lúc đó, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ trong nước sang, đến thăm đơn vị, chuyển lời căn dặn của Bác Hồ:

Không quân là chỗ mạnh của giặc Pháp. Muốn đánh thắng Pháp chúng ta cần có bộ đội pháo cao xạ mạnh để trị chỗ mạnh của chúng. Đừng quên những tội ác chồng chất của không quân Pháp với đồng bào ta. Muốn trả thù cho đồng bào phải bắn rơi nhiều máy bay địch. Muốn bắn rơi máy bay địch phải học tập tốt, giữ gìn súng đạn tốt.

Một cuộc thi đua huấn luyện và học tập sôi nổi được phát động. Chiến sĩ tiến bộ rất mau mà cán bộ trưởng thành cũng nhanh chóng.

Đầu năm 1954, trung đoàn chia làm ba đợt hành quân về tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Sự xuất hiện của pháo cao xạ Việt Nam là một sự bất ngờ lớn đối với quân Pháp trên chiến trường Điện Biên Phủ! Ta bắn rơi 52 máy bay các loại, bắn bị thương 117 chiếc khác, đẩy lui và giành lại quyền làm chủ bầu trời Điện Biên góp phần vào chiến thắng Điện Biên lẫy lừng.

Hòa bình lập lại, ngày 21 tháng 9 năm 1954 Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đại đoàn 367 . Ngoài các tiểu đoàn cao xạ dã chiến đi theo các đại đoàn bộ binh có ba trung đoàn cao xạ pháo hỗn hợp (pháo cỡ nhỏ và cỡ trung). Tôi được bổ nhiệm làm Chính ủy của Trung đoàn 689 về tiếp quản Hải Phòng. Sau đó lên làm Phó chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn cho đến năm 1959 được cử đi học chính trị cao cấp 10 tháng rồi được điều về làm Phó chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Hải quân.

Thế là cuộc hành quân đầu xuân 1953 từ Tây Bắc sang Việt Bắc đến Đông Bắc, vượt biên giới Việt Nam - Trung Quốc lên đông bắc Trung Quốc đã chuyển tôi từ lính bộ binh sang lính phòng không cao xạ. Từ hai năm cuối chiến tranh chống Pháp đến mấy năm sau hòa bình lập lại tôi đã được phục vụ bảy năm trong binh chủng pháo cao xạ. Trong bảy năm ấy tôi đã học được nhiều điều. Nhưng có lẽ điều học được sâu sắc nhất là lời căn dặn của Bác Hồ từ chiến khu Việt Bắc được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh sang Trung Quốc truyền đạt lại cho chúng tôi.

Lời dặn của Bác chính là bài học vỡ lòng đối với chúng tôi về Binh chủng Pháo cao xạ nói riêng - lúc đó - cũng như nói chung với Quân chủng Phòng không - Không quân sau này.

Về Hải quân, xa Binh chủng Pháo cao xạ chưa được 5 năm thì cuối tháng 4 năm 1965 đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, tôi lại được điều về làm nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Hà Nội.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn