Hũ muối nghĩa tình trên đỉnh dốc
Đầu năm 1973, chiến trường Nam Bộ thiếu muối trầm trọng do địch thực hiện chiến dịch phong tỏa kinh tế, cắt đứt hoàn toàn các ngả chợ vùng giáp ranh. Nhiều chiến sĩ trong đại đội của Hải bắt đầu xuất hiện triệu chứng rụng tóc, phù chân và sưng nướu răng do nhiều tháng liền phải ăn cơm nhạt với rau rừng nấu suông.
Trạm trưởng trạm giao liên tiền phương – một cựu chiến binh già tên là bác cả Tân – nhìn thấy thể trạng anh em ngày một sút kém thì lòng đau như cắt. Bác quyết định thực hiện một chuyến đi mạo hiểm: một mình cải trang thành người đi rừng, gùi một hũ sành chứa đầy muối hạt vượt qua ba tầng bốt gác dày đặc của địch để mang về cho đơn vị.
Trên đường quay về, bác Tân bị thám báo phát hiện và truy đuổi gắt gao. Một viên đạn bắn tỉa sượt qua hông làm bác ngã lăn xuống sườn dốc đá. Dù máu chảy đầm đìa, bác cả Tân vẫn dùng hai tay ôm chặt lấy hũ sành trước ngực, dùng tấm thân già nua của mình làm tấm lá chắn để bảo vệ cho những hạt muối quý hơn vàng không bị vỡ nát, văng ra ngoài.
Khi Hải và đội tuần tra tìm thấy bác ở chân dốc, bác đã kiệt sức hoàn toàn, gương mặt tái nhợt vì mất máu. Thế nhưng, đôi tay bác vẫn khóa chặt lấy chiếc gùi sành. Bác khẽ mở mắt, thều thào nói với Hải: – "Muối... muối vẫn còn nguyên... Mau mang về cho anh em nấu cháo..."
Hũ muối hạt năm ấy đã cứu sống cả một đại đội qua cơn hoạn nạn, giúp họ phục hồi sức khỏe để tiếp tục bám trụ chiến hào cho đến ngày toàn thắng. Bác cả Tân may mắn sống sót nhưng để lại một bên chân đi khập khiễng vĩnh viễn. Đối với những người lính năm đó, vị mặn của hạt muối Trường Sơn không chỉ là gia vị đơn thuần, mà là vị mặn chát của mồ hôi, của máu và của lòng trung kiên vô hạn mà hậu phương dành cho tiền tuyến.



