Bài viết

Huế: Khúc Hoan Ca Tháng Ba và Đôi Bờ Vĩnh Biệt Chia Ly

Hưng Yên27/12/2025Nguyễn Thị Ngoan (Trường TH và THCS Tây Đô)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Huế: Khúc Hoan Ca Tháng Ba và Đôi Bờ Vĩnh Biệt Chia Ly

Tháng Ba năm 1975, cái nắng của dải đất miền Trung bắt đầu hanh hao nhưng lòng người thì như đang cuộn trào những đợt sóng ngầm mãnh liệt. Cố đô Huế những ngày ấy không còn vẻ trầm mặc, tĩnh mịch thường thấy của những lăng tẩm, đền đài. Thay vào đó là một bầu không khí đặc quánh sự căng thẳng, một sự nén lại của lịch sử trước giờ phút bùng nổ.

Khi chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi vang dội với việc giải phóng Buôn Ma Thuột, "huyệt đạo" của chế độ Sài Gòn bị đâm thủng, thế trận trên toàn miền Nam rung chuyển tận gốc rễ. Ở Trị - Thiên, lệnh tấn công đã phát ra. Những bước chân của các chiến sĩ Quân đoàn 2, phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương, đang áp sát thành phố từ nhiều hướng.

Lịch sử như một dòng sông đang cuộn chảy đến khúc quanh quyết định. Huế - nơi từng chứng kiến nỗi đau chia cắt, nơi từng là biểu tượng của quyền uy phong kiến và cũng là nơi chịu đựng biết bao vết thương chiến tranh - giờ đây đang nín thở chờ đợi ngày "về lại".

Những ngày trung tuần tháng Ba, quân đội Sài Gòn tại Huế bắt đầu rơi vào tình trạng hỗn loạn cực độ. Những con đường dẫn ra cửa biển Thuận An chật cứng xe cộ và dòng người di tản. Tiếng gầm rú của máy bay phản lực xen lẫn tiếng pháo kích từ xa dội lại tạo nên một bản nhạc hỗn mang của sự sụp đổ. Những toán lính dù, lính thủy đánh bộ từng một thời kiêu hãnh giờ đây bàng hoàng trước tốc độ tiến công thần tốc của đối phương. Cái gọi là "lá chắn thép" ở phía Bắc miền Nam đang vỡ vụn từng mảng lớn.

Trên những cánh đồng từ Quảng Trị hướng về Thừa Thiên, các đơn vị bộ đội ta hành quân không nghỉ. Đêm cũng như ngày, những chiếc xe tải phủ lá ngụy trang nối đuôi nhau, pháo binh hăm hở vào vị trí, và những bước chân của các chiến sĩ giải phóng xẻ dọc Trường Sơn mà đi. Trong đôi mắt của những người lính trẻ, có người lần đầu đến Huế, có người là người con của đất cố đô đang tìm đường về nhà, đều rạng ngời một niềm tin mãnh liệt. Họ hiểu rằng, giờ phút của lịch sử đã điểm.

Sáng ngày 23 tháng Ba, lệnh tổng công kích giải phóng Huế chính thức ban hành. Những họng pháo của ta bắt đầu gầm lên, trút lửa xuống các cứ điểm quân sự của địch tại Mang Cá, Tân Mỹ, Thuận An. Tiếng nổ rung chuyển mặt đất như muốn đánh thức cả một vùng đất đã quá lâu chìm trong khói lửa. Quân ta từ ba hướng: Bắc, Tây và Nam đồng loạt tiến công. Những mũi tên thép xuyên thủng các tuyến phòng thủ vòng ngoài, tiến thẳng vào nội đô.

Tại Phú Lộc, các chiến sĩ của Sư đoàn 325 cắt đứt hoàn toàn đoạn đường sắt và đường bộ giữa Huế và Đà Nẵng, chặn đứng đường rút chạy bằng đường bộ của địch. Huế giờ đây như một "ốc đảo" cô lập. Sự hoảng loạn của quân địch lên đến đỉnh điểm khi các tướng lĩnh chỉ huy bí mật tháo chạy, bỏ mặc binh sĩ trong cơn lốc xoáy của thất bại.

Sáng ngày 25 tháng Ba, không khí tại Huế chuyển mình một cách kỳ diệu. Giữa những đống đổ nát của chiến tranh, giữa những chiếc xe tăng bị cháy sạm và trang thiết bị quân sự vứt bỏ bừa bãi trên đường phố, một luồng sinh khí mới bắt đầu lan tỏa. Những người dân Huế, vốn dĩ thâm trầm và kín đáo, bỗng chốc vỡ òa trong niềm hạnh phúc tột cùng.

Cánh cửa của những ngôi nhà trên đường Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Phan Bội Châu bắt đầu mở rộng. Những lá cờ nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao vàng ở giữa – lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam – bắt đầu xuất hiện, ban đầu là lẻ tẻ, rồi sau đó bùng lên rực rỡ khắp các ngõ phố. Tiếng reo hò "Giải phóng rồi! Giải phóng rồi!" vang vọng khắp đôi bờ sông Hương.

Hình ảnh hào hùng nhất, xúc động nhất chính là khoảnh khắc lúc 10 giờ 30 phút sáng ngày 25 tháng Ba. Trên đỉnh Kỳ Đài – cột cờ trước Ngọ Môn, lá cờ giải phóng tung bay ngạo nghễ trước gió biển. Lá cờ ấy không chỉ đánh dấu việc thành phố được giải phóng hoàn toàn, mà còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất của người dân Huế qua bao thăng trầm. Nhìn lá cờ tung bay, nhiều người già đã bật khóc. Họ khóc vì sau bao nhiêu năm chờ đợi, sau bao nhiêu mất mát của những ngày Mậu Thân 1968, cuối cùng Huế đã thực sự sạch bóng quân thù.

Dưới chân Cột Cờ, dòng sông Hương trôi đi lặng lẽ nhưng như đang chuyên chở cả một niềm vui bất tận. Cầu Trường Tiền dù vẫn còn mang những thương tích của thời gian, giờ đây trở thành nhịp cầu nối liền niềm vui giải phóng giữa hai bờ Bắc - Nam của thành phố. Những chiếc xe tăng của quân giải phóng tiến vào nội đô, trên xe, những chiến sĩ trẻ măng, khuôn mặt còn vương bụi đường và khói súng, tươi cười vẫy chào người dân. Họ được đón nhận bằng những cái ôm xiết chặt, những bát nước chè xanh nồng ấm và những nụ cười rạng rỡ của những o thiếu nữ Huế.

Những ngày sau đó, Huế sống trong một lễ hội thực sự. Thành phố không có sự trả thù, không có những cảnh hỗn loạn của một cuộc đổi đời mà thay vào đó là sự tự giác, trật tự và tràn đầy tình người. Những cán bộ kháng chiến từ trong rừng sâu trở về, những người con của Huế đi tập kết nay quay lại, họ tìm gặp nhau trong nước mắt của sự đoàn viên.

Người ta kể lại rằng, những đêm đầu tiên sau giải phóng, Huế không ngủ. Dưới ánh đèn đường vàng vọt nhưng ấm áp, người dân cùng nhau dọn dẹp phố xá, xóa bỏ những dấu vết của chế độ cũ. Tiếng loa phóng thanh vang lên những bài hát cách mạng, những khúc ca ca ngợi quê hương đất nước. Những người nghệ sĩ Huế, vốn dĩ mang trong mình tâm hồn lãng mạn, giờ đây say sưa sáng tác những bài thơ, bản nhạc mừng ngày hội lớn.

Giải phóng Huế không chỉ là một chiến thắng quân sự mang tính chiến lược, mà còn là một đòn giáng mạnh vào tâm lý của chính quyền Sài Gòn. Mất Huế, cánh cửa vào Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung bị mở toang. Nó tạo nên một hiệu ứng domino, thúc đẩy cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đi đến thắng lợi cuối cùng tại Sài Gòn vào ngày 30 tháng Tư lịch sử.

Nhìn lại những ngày tháng Ba năm ấy, chúng ta không chỉ thấy khói lửa và sự khốc liệt của chiến tranh, mà còn thấy được vẻ đẹp của lòng dân. Huế giải phóng bằng sức mạnh của những binh đoàn chủ lực, nhưng cũng bằng chính sức mạnh của những người dân bám trụ, của những phong trào học sinh sinh viên đấu tranh bền bỉ trong lòng địch. Đó là sức mạnh của một dân tộc khát khao hòa bình và thống nhất.

Ngày nay, khi dạo bước trên những con đường rợp bóng cây của Huế, ngắm nhìn vẻ cổ kính của Đại Nội hay sự thơ mộng của dòng Hương Giang, chúng ta vẫn có thể cảm nhận được hơi thở của lịch sử. Những dấu tích của những ngày tháng Ba năm 1975 vẫn còn đó, không chỉ ở những hiện vật trong bảo tàng, mà còn trong ký ức của những người đã đi qua cuộc chiến.

Huế giải phóng là một trang sử vàng, một khúc tráng ca hào hùng mà mỗi khi nhắc lại, lòng người lại không khỏi bồi hồi, xúc động. Đó là minh chứng cho sức mạnh của chính nghĩa, của niềm tin và của tình yêu quê hương đất nước cháy bỏng. Khí thế ấy, tinh thần ấy sẽ mãi là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn của các thế hệ mai sau, nhắc nhở họ về cái giá của độc lập, tự do và sự hy sinh của bao lớp cha anh để có được một Huế bình yên và rạng rỡ như hôm nay.

Tháng Ba lại về, gió từ biển Thuận An vẫn thổi vào đất liền những hơi thở mặn mòi. Cố đô lại khoác lên mình màu áo mới, nhưng trong sâu thẳm, Huế vẫn giữ mãi hình bóng của lá cờ giải phóng tung bay trên đỉnh Kỳ Đài ngày ấy – một khoảnh khắc của vĩnh cửu, khi trái tim của cả dân tộc cùng hòa chung một nhịp đập tự do.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Huế: Khúc Hoan Ca Tháng Ba và Đôi Bờ Vĩnh Biệt Chia Ly | Câu chuyện thời hoa lửa