Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và hào khí Đông A bất tử
Trần Quốc Tuấn (1228–1300), tước hiệu Hưng Đạo Đại Vương, sinh ra trong hoàng tộc nhà Trần. Ông là người văn võ song toàn, có lòng yêu nước thương dân sâu sắc và tầm nhìn chiến lược quân sự lỗi lạc hiếm có. Khi đế quốc Nguyên - Mông hung bạo đem quân xâm lược Đại Việt lần thứ ba (1288), Trần Hưng Đạo được vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc công tiết chế, tổng chỉ huy toàn quân. Gạt bỏ mối thù riêng của dòng tộc để đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, ông đã đoàn kết toàn dân, triệu tập Hội nghị Bình Than và hội nghị Diên Hồng, tạo nên ý chí "sát thát" đồng lòng của toàn quân và toàn dân. Bằng nghệ thuật chiến tranh nhân dân xuất chúng và chiến thuật tiêu thổ kháng chiến, ông đã trực tiếp chỉ huy trận Bạch Đằng lịch sử năm 1288, đánh tan hoàn toàn hạm đội thuyền chiến giặc Nguyên, bảo vệ vững chắc non sông. Cuộc đời ông là biểu tượng cao đẹp của đạo lý làm người, lòng trung nghĩa và trí tuệ Việt Nam.
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có những vĩ nhân khi nhắc đến tên tuổi là gợi lên cả một thời kỳ hào hùng rực rỡ của đất nước. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn chính là một tượng đài chói lọi như thế – một danh tướng thiên tài, một nhà tư tưởng quân sự lỗi lạc, người đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan đội quân Nguyên - Mông bách chiến bách thắng trên toàn thế giới.
Trần Quốc Tuấn sinh năm 1228, xuất thân trong hoàng tộc nhà Trần. Ngay từ thủa nhỏ, ông đã nổi tiếng là người thông minh xuất chúng, đọc rộng hiểu sâu, tinh thông cả văn chương lẫn binh pháp võ nghệ. Đặc biệt, ông mang trong mình một hoài bão lớn và tấm lòng trung quân ái quốc vô bờ bến.
Đứng trước mối thù sâu đậm giữa hai nhánh trong họ Trần trước kia, Trần Quốc Tuấn luôn biết đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết mọi ân oán cá nhân. Khi quân Nguyên - Mông dưới sự chỉ huy của Hốt Bật Liệt đem đại quân hùng hổ sang xâm lược Đại Việt, ông đã khuyên vua Trần bỏ qua mối thù riêng, đồng tâm hiệp lực để cứu nước. Sự cao thượng và lòng trung nghĩa ấy đã cảm hóa toàn bộ triều đình, tạo nên sự đoàn kết sắt đá chưa từng có trong lịch sử.
Dưới sự lãnh đạo tài tình của Hưng Đạo Đại Vương, Đại Việt đã huy động sức mạnh của toàn dân tộc. Năm 1284, tại bến Bình Than, ông cùng triều đình họp bàn kế sách đánh giặc, khích lệ tướng sĩ. Đặc biệt, hội nghị Diên Hồng năm 1285 triệu tập các bô lão khắp mọi miền đất nước – đại diện cho ý chí của muôn dân – với lời hô đồng thanh "Đánh!" đã làm rung chuyển cả hội trường, trở thành biểu tượng đỉnh cao của nền dân chủ và tinh thần đoàn kết truyền thống.
Trên chiến trường, Trần Quốc Tuấn thể hiện một thiên tài quân sự vượt thời đại. Ông chủ trương tránh thế mạnh lúc đầu của giặc, thực hiện chiến lược "thanh dã" (vườn không nhà trống), rút lui chiến thuật để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ phản công. Khi quân giặc lâm vào cảnh đói khát, hoang mang ở Thăng Long, ông đã tung ra những đòn quyết định. Đỉnh cao là chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 1288, nơi ông tiếp nối hào khí của Ngô Quyền, bố trí bãi cọc ngầm tiêu diệt toàn bộ hạm đội thuyền lương của giặc, bóp nghẹt hoàn toàn ý chí xâm lược của đế quốc Nguyên - Mông.
Không chỉ là một nhà quân sự vĩ đại, Trần Quốc Tuấn còn để lại cho hậu thế những tác phẩm quân sự bất hủ như Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược. Bài Hịch tướng sĩ của ông với những lời lẽ đanh thép, tha thiết "Sữa nước pha màu, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa..." đã đánh thức lòng tự tôn dân tộc, khí phách kiên cường của hàng vạn tướng sĩ.
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn qua đời năm 1300, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho muôn dân. Nhớ ơn công lao trời biển của ông, nhân dân khắp mọi miền đất nước đã tôn sùng ông là "Đức Thánh Trần", lập đền thờ phụng đời đời. Cuộc đời và sự nghiệp của ông mãi mãi là ngọn đuốc thiêng liêng soi đường, là niềm tự hào kiêu hãnh của dòng máu Lạc Hồng.
Bạn có muốn tìm hiểu thêm về đền Kiếp Bạc (Hải Dương) – nơi gắn liền với đại bản doanh của Hưng Đạo Đại Vương hay những giai thoại thú vị xung quanh tác phẩm Hịch tướng sĩ không?



