Anh hùng Lực lượng vũ trang

Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn

Đức Thánh Cả

Quảng Ninh25/10/2026Nguyễn Đình Phong (Đoàn Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn

Đức Thánh Cả

 

Hằng năm, cứ đến Tuần lễ du lịch Hạ Long dịp 29-30/4, người dân phường Hòn Gai, tỉnh Quảng Ninh lại nô nức tổ chức Lễ hội Đền Đức Ông Trần Quốc Nghiễn để tưởng niệm ngày hoá của ngài vào ngày 24/3 âm lịch với nhiều hoạt động tưởng nhớ công ơn của ngài. Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn chính là người có nhiều chiến công hiển hách trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, đồng thời cũng có nhiều gắn bó sâu sắc với nhân dân vùng biển nơi đây.

Trần Quốc Nghiễn (1251 – 1330) là một vị tướng tài giỏi, văn võ song toàn thời Trần. Ông là con trai trưởng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành công chúa, là cháu đích tôn của An Sinh Vương Trần Liễu – anh trai vua Trần Thái Tông. Ông là người cùng cha và các anh em chinh chiến đánh tan quân Nguyên – Mông xâm lược dưới thời vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Là người con cả của vị tướng lĩnh lừng lẫy nhất triều Trần, ngay từ nhỏ, ông đã bộc lộ tư chất thông minh, được học tập toàn diện cả về văn chương, võ thuật và tinh thông binh pháp. Ông lớn lên với lòng yêu nước sâu sắc và tinh thần thượng võ đặc trưng của Hào khí Đông A thời Trần.

Nói về sự nghiệp cầm binh của ông, sử sách chép: Tháng 12 âm lịch năm Thiệu Bảo thứ 6 (1284), quân Nguyên Mông xâm lược Đại Việt lần thứ 2. Được tin đại quân do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy thua các trận đánh ở biên giới và rút về Vạn Kiếp, vua Trần sai Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn cùng Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, Minh Hiến Vương Trần Quốc Uất và Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiện đốc suất 20 vạn quân các xứ Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhãn đến hội ở Vạn Kiếp, theo quyền điều khiển của Hưng Đạo vương để chống quân Nguyên.

Đến năm 1285, sau khi đại quân nhà Trần đánh thắng quân Nguyên Mông, quân Nguyên hoảng loạn tháo chạy tán loạn về phương Bắc. Trần Quốc Nghiễn đã trực tiếp chỉ huy truy kích địch đến tận châu Tư Minh. Tại đây, ông dùng tên tẩm thuốc độc bắn trúng Lý Quán - viên tướng hộ vệ Thoát Hoan, khiến quân giặc càng thêm hoang mang khiếp sợ. Năm 1288, Trần Quốc Nghiễn lại cùng với cha và các tướng lĩnh nhà Trần tiếp tục lập được nhiều chiến công hiển hách.

 

Không chỉ là vị tướng tài trên chiến trận, Hưng Vũ Vương còn là người hết lòng vì dân. Trong dịp định công dẹp giặc Nguyên vào tháng 4 năm Kỷ Sửu (1289), triều đình tiến phong ông làm Khai Quốc Công, ghi nhận công lao to lớn trong sự nghiệp trung hưng đất nước. Tên tuổi của Ông được ghi vào Trung Hưng thực lục, trở thành một trong những công thần tiêu biểu của triều Trần. Sau chiến thắng giặc Nguyên, Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn về xã Chung Mỹ, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay là phường Thủy Nguyên, TP Hải Phòng) chiêu tập lưu dân làm ăn yên ổn. Khi ông mất được lập đình thờ phụng là Thành hoàng.

 

Trong lịch sử từng tồn tại điển tích về Trần Quốc Tảng như sau: Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Quốc Tuấn là con Yên Sinh Vương, lúc mới sinh ra có một thầy tướng xem và bảo: "Người này ngày sau có thể giúp nước cứu đời". Đến khi lớn lên, dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ. Yên Sinh Vương trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng, mang lòng hậm hực, tìm khắp người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, Yên Sinh Vương cầm tay Quốc Tuấn giối giăng rằng: "Con mà không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được". Quốc Tuấn ghi để điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.

Một lần nọ, ông đem lời cha dặn nói với gia nô là Dã Tượng, Yết Kiêu. Hai người gia nô can ông: "Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi". Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người.

Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương: “Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?”. Hưng Vũ Vương trả lời: “Dẫu có khác họ cũng còn không nên, huống chi là cùng một họ”. Quốc Tuấn ngầm cho là phải.”

Câu trả lời ấy đã bộc lộ rõ tư chất chín chắn, giữ trọn đạo làm con, tinh thần trung quân ái quốc cùng ý thức bảo vệ tông tộc của ông.

 

Sử lại chép tiếp: “Lại một hôm, Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng. Quốc Tảng tiến lên thưa: “Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ”. Quốc Tuấn rút gươm kể tội: "Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra", định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Đến đây ông dặn Hưng Vũ Vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”.”

Hành động của Hưng Vũ Vương khi em trai bị cha rút gươm kể tội đã thể hiện tấm lòng của người anh cả trên vai gánh vác trách nhiệm lớn nhưng luôn yêu thương, che chở, bảo vệ em, đồng thời thể hiện tấm lòng hiếu thuận, dũng cảm của ông trước cha mình.

 

Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: Trước năm 1282, Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn được vua ban hôn cho công chúa Thiên Thuỵ. Công chúa vốn có mối tình riêng avới Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư từ trước đó, nên dù đã kết hôn với Hưng Vũ Vương, bà vẫn qua lại với Nhân Huệ Vương. Sự việc vỡ lở, Trần Khánh Dư phạm trọng tội, Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Sau Khánh Dư thông dâm với công chúa Thiên Thụy. Bấy giờ Hưng Vũ Vương Nghiễn vì là con trai Quốc Tuấn, được lấy công chúa Thiên Thụy, lại có công đánh giặc. Vua sợ phật ý Quốc Tuấn, mới sai người đánh chết Khánh Dư ở Hồ Tây...". Nhưng vì thương tình Khánh Dư, vua hạ lệnh ngầm cho lính khi đánh ông thì đánh chúc đầu gông xuống, nhờ vậy mà qua một trăm trượng Khánh Dư vẫn sống. Theo luật thời đó, qua 100 roi mà không chết nghĩa là trời tha, nhờ vậy mà ông đã được miễn tội chết. Năm 1283, Trần Khánh Dư được phục chức. Về sau, ông chính là người viết bài tựa cho tác phẩm “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” của Hưng Đạo Vương, được Hưng Đạo Vương trọng dụng tài năng quân sự - một biểu hiện cho thấy hiềm khích giữa ông và Trần Quốc Nghiễn đã bị xoá bỏ. Việc này đã thể hiện tư chất cao thượng của Hưng Vũ Vương, khi dù là vị vương gia đầy quyền lực và là con trưởng của Quốc Công Tiết Chế Đại Việt, ông vẫn cư xử đàng hoàng, đúng mực, không để xảy ra những vụ thù hằn tư gia lớn làm ảnh hưởng tới đại cục.

 

Theo sách “Trần triều hiển thánh chính kinh tập biên” thì sau khi hoá, Trần Quốc Nghiễn nhiều lần hiển ứng cứu giúp dân lương thiện, đặc biệt đối với ngư dân Hạ Long, Quảng Ninh. Để ghi nhớ công ơn của ông, nhân dân đã cùng nhau lập đền thờ. Theo truyền thuyết, xưa kia tại vị trí ngôi đền Đức Ông từng là nơi dừng chân của những người đi biển. Họ vào đây để lấy nước - dòng nước ngọt mát lành chảy từ núi Bài Thơ, nhờ đó mà cuộc sống mưu sinh trên biển của họ được bảo đảm. Tượng thờ Hưng Vũ Vương trong ngôi đền cũng có nét riêng. Sát bên hông tượng ngài có chiếc kiếm đã bỏ khỏi bao, trong thế sẵn sàng chém xuống nước. Kiếm chém xuống nước là một hình thức chém thuỷ quái dâng nước làm ngập lụt. Dân chài Hạ Long vì thế luôn gửi trọn niềm tin vào các vị thánh thần, họ tham gia tu bổ đình, đền, các ngày lễ tết trong năm đều thành tâm thờ cúng. Hình tượng Hưng Vũ Vương trong trí nhớ nhân dân hiện lên như một vị thánh hộ mệnh của dân chài, như ngọn đèn hạnh phúc rọi sáng tâm hồn nhân dân. Cũng vì lẽ đó, Đền Đức Ông có tiếng rất thiêng, nó cứu giúp và truyền thêm sức mạnh cho quần chúng, kể cả những người ngư dân hay những con dân muốn nương nhờ sự chở che của Hưng Vũ Vương.

 

Có thể nói, Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn đã sống trọn đời mình với rực rỡ “hoa lửa”. Cuộc đời, sự nghiệp và sự hiển ứng sau khi hoá của ông đã thể hiện phẩm chất của một vị tướng văn võ song toàn, trung quân ái quốc, biết vì giang sơn xã tắc, đặt hạnh phúc chung lên trên lợi ích cá nhân, một người con hiếu thuận, một người anh cả dốc lòng yêu thương và bảo vệ các em, một Đức Thánh Cả thương dân, luôn hiển ứng cứu giúp mỗi khi nhân dân cần. Ông là điển hình cho hình ảnh những anh hùng đã hoá vào non sông đất nước vẫn một lòng chăm lo cho sự bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Những đức tính cao đẹp của ông chính là ngọn đèn dẫn lối cho ta học tập và noi theo.

 

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn