Ngày tôi còn nhỏ, vào mùng một, ngày rằm, ngày lễ, tết... tôi thường theo ông nội đến chùa lễ Phật. Mỗi lần hành lễ xong, ông lại ngồi suy tư dưới gốc cây hoa đại cổ thụ trước sân chùa. Mùa hè, hoa đại nở rộ, sân chùa tràn ngập mùi hương trầm phảng phất cùng hương thơm dìu dịu của những bông hoa đại trắng nõn mịn màng lẫn trong tán lá xanh mướt cứng cáp vươn lên đón ánh nắng chói chang.
Trong tư thế của một người đang ngồi thiền, ông ngước đôi mắt đục cùi nhãn nhìn những chùm hoa đại đung đưa trước gió. Ánh mắt ông chơi vơi như đang nhớ về nơi nào xa xôi lắm! Tôi cặm cụi nhặt những bông hoa đại rơi vung vãi khắp sân chùa, xâu vào một sợi dây cói, kết thành vòng hoa; vòng nhỏ cho tôi, vòng lớn tôi đeo vào cổ ong. Mỗi khi đeo vòng hoa đại trên người, ông lại nhẩm hát những câu hát bằng tiếng Lào. Những lúc như vậy, một tay tỳ lên đầu gối, tay kia chống vào chiếc gậy tre, khó nhọc cố rướn người đứng thẳng lên như thời đang còn trai trẻ. Chợt nhận ra là mình đã già! Năm tháng, tuổi tác đang đè trên vai ông, khoé mắt nhăn nheo rơm rớm ướt. Ông mơ màng nhớ về điệu Lăm vông, khúc Lăm tơi mà ông cùng đồng đội vẫn múa, vẫn hát trong những buổi liên hoan văn nghệ trên đất bạn Lào xa xôi.
...
Người Lào gọi hoa đại là hoa chăm-pa. Hoa chăm-pa không chỉ tượng trưng cho sự thanh cao, lòng từ bi bác ái của cõi Phật mà còn là biểu tượng của tâm hồn trong trắng, tấm lòng thuỷ chung son sắc của nhân dân các bộ tộc Lào. Trên khắp nước Lào, hoa chăm-pa thường được trồng trước sân chùa, trồng làm cảnh trước sân nhà. Hàng đêm, trước khi đi ngủ, tôi thường rúc vào nách ông, nghe ông kể chuyện. Có lần ông kể cho tôi nghe truyền thuyết vẽ đất nước Triệu voi:
Xưa lắm, trên trời có mười hai nàng tiên xinh đẹp, hát hay, múa dẻo. Một hôm, các nàng nhìn xuống hạ giới thấy giữa vùng rừng núi bạt ngàn nổi lên một hồ nước, mặt hồ sáng lấp lánh như tráng bạc, bèn cưỡi mây xuống tắm, áo váy vắt trên những cành cây ven hồ. Một chàng hoàng tử đi săn ngang qua, thấy các nàng tiên xinh đẹp, chàng liền giấu bộ quần áo của nàng út. Thấy có người lạ, các nàng tiên hoảng hốt bay về trời. Riêng nàng út bị mất áo váy, không chắp được cánh bay đành phải ở lại trần gian. Tình yêu của nàng tiên nữ đó và chàng hoàng tử ngày càng thắm đượm. Họ thành vợ thành chồng, con cháu đông đúc, lập làng lập bản, lập nên đất nước Triệu voi... Đó là nước Lào ngày nay.
Nhưng tôi được nghe nhiều nhất vẫn là những câu chuyện chiến đấu của ông và đồng đội trong quãng thời gian ông phục vụ tại mặt trận Nam Lào.
Từ giữa năm 1966, Mỹ tăng cường dùng "pháo đài B52" tiến hành ném bom rải thảm đánh phá vùng giải phóng của Lào. Ngoài mục đích tấn công các căn cứ quân sự, Mỹ còn mượn bom đạn buộc nhân dân sống trong các làng bản phải về vùng chúng kiểm soát. Nơi bọn chúng ngụy trang dưới những cái tên mỹ miều như "khu chấn hưng", "làng đoàn kết"... để dễ bề cai trị là gom dân lấn chiếm ra vùng giải phóng của cách mạng nước bạn. Thực chất đây là một phần trong kế hoạch "tát nước bắt cá" của Mỹ và tay sai trong chiến lược "bình định".
Đầu những năm 1970, đế quốc Mỹ ráo riết triển khai học thuyết Ních-xơn" trên khắp xứ Đông Dương. Chúng chủ trương dùng "Người Đông Dương đánh người Đông Dương" nhằm hạn chế thấp nhất những tổn thất của cuộc hiến tranh mà Mỹ ngày càng sa lầy tại đây. Ở Việt Nam, chúng gấp rút thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Trên đất Lào, chúng tăng cường thực hiện chiến lược "Người Lào đánh người Lào".
Tháng 6 năm 1970, đang công tác và chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 thì đơn vị ông được biên chế vào Sư đoàn 968, thuộc Bộ Tư lệnh miền Tây, bên chiến trường C.
Thành lập ngày 28 tháng 6 năm 1968, Sư đoàn 968 có nhiệm vụ chính là chiến đấu giúp bạn, phối hợp cùng quân đội Pa-thét Lào bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh, ở Tây Trường Sơn. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn còn chủ động giúp bạn tăng gia sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, phát triển kinh tế... phục vụ kháng chiến. Với truyền thống "Cơ động liên tục, khắc phục khó khăn, đoàn kết lập công, trọn vẹn nghĩa tình dân tộc - quốc tế", mùa khô năm 1971-1972 Sư đoàn 968 đã chủ động tấn công địch theo hướng đường 23, chặn đánh quân địch phản kích ở I Tu, Bản Nhích, mở rộng hướng tấn công xuông Không Xê Đôn, uy hiếp quân địch ở Pắc Xế... tiến tới giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven trước ngày có hiệp định ngừng bắn ở Lào.
...
Ở nước Lào, mọi sinh hoạt văn hóa của người dân thường tập trung quanh đõng lửa. Mọi người cùng nhảy điệu Lăm vông, cùng hát khúc Lăm; điệu múa, câu hát, tiếng trống, tiếng chiêng cùng ánh lửa ấm áp nghĩa tình như quyện với màu sắc và hương hoa chăm-pa quyến rũ lòng người.
Do phải đảm bảo bí mật và những đòi hỏi khắt khe của cuộc kháng chiến, những buổi liên hoan văn nghệ lúc đó không dám đốt lửa, ngay cả tiếng nhạc, tiếng hát cũng chỉ dám cất lên vừa đủ nghe. Vì mọi người còn phải đề phòng những trận tập kích của máy bay và pháo tầm xa của địch. Chiến tranh ác liệt là vậy nhưng cả người già lẫn trẻ nhỏ, dân bản và bộ đội luôn quây quần bên nhau, cùng nhau nhảy điệu Lăm vông, hát các bài Lăm sau những ngày làm việc mệt mỏi và căng thẳng. Lễ hội diễn ra vui vẻ, thắm đượm tình đoàn kết quân, dân hai nước Việt - Lào anh em.Trong một buổi liên hoan văn nghệ "dã chiến" đầu mùa khô năm 1970. Ông đã gặp nàng tiên của ông! - Ngươi con gái tuổi độ mươi tám đôi mươi, múa đẹp như chim công trong mùa tìm bạn. Nàng có đôi mắt đen láy như màu tràng hạt của vị sư trong những ngôi chùa Lào cổ kính. Ngay từ lần gặp đầu tiên, ông đã bị cuốn hút bởi đôi mắt sâu thẳm ấy. Nàng là người đã dạy ông nhảy điệu Lăm vông, hát những câu hát Lăm đầu tiên trên đất bạn...
Bỗng câu hát như bị gãy làm đôi, điệu múa như giẫm lên nốt nhạc khi tiếng súng nổi lên ở khắp nơi. Buổi liên hoan trở thành trận chiến đấu ác liệt. Do tinh thần cảnh giác và đã lên kế hoạch phòng bị từ trước nên tan nhanh chóng phá tan trận tập kích của địch. Khi đã im tiếng súng, ông mới nhận ra mình còn chưa kịp hỏi tên và địa chỉ của nàng.
Năm 1970, đơn vị ông đóng quân trên triền đồi thoai thoải, núp dưới tán rừng thông xanh tốt trên cao nguyên Bô-lô-ven, phía dưới có con suối Bản Nhích đổ ra sông Sê Nậm Noi. Mùa khô, suối cạn trơ đáy, con suối như gầy ra, giữa dòng nhô lên những phiến đá chình ình như có đàn voi, đàn trâu rừng đang ngâm mình dưới nước.
Một buổi sáng ông cầm chiếc đinh ba ra suối Bản Nhích bắt cá, định bụng sẽ làm bữa tiệc nhỏ, để ngày mai tiến hành phát rẫy trồng ngô giúp bà con Bản Nhích. Từ xa ông đã trông thấy nàng qua tà áo váy sặc sỡ sắc màu; màu xanh của núi rừng, màu vàng của mùa màng bội thu và màu đỏ ấm áp của ngọn lửa trong những căn nhà gỗ. Nàng xuất hiện bất ngờ bên bờ suối như một nàng tiên vừa bước ra khỏi màn sương sớm tung tăng đón ánh ban mai sóng sánh như giọt mật ong rừng đọng trên mặt sáp. Nàng ra suối lấy nước?! Mùa cạn, cá còn trồi lưng khô vây. Nước đâu ra mà lấy!... Mùa này, sao không lấy nước trên mó nước mà lại ra suối! - Ông nghĩ bụng. Chợt nhớ về trận tập kích của địch... Hôm đó hoảng loạn, súng đạn, lửa cháy ngút trời, ông mải cùng đồng đội chiến đấu, chưa kịp hỏi tên thì nàng đã biến mất?! - Nghĩ vậy, mối nghi ngờ trong ông bốc lên ngùn ngụt như vạt cỏ gianh khô nỏ vừa được nhen lên mồi lửa. Nhưng...! Ngộ nhỡ nghi oan cho người ta thì chết!? Lúc này mà manh động thì hỏng chuyện...! Ông phân vân rồi nhảy phốc vào hốc cây săng lẻ, lặng lẽ theo dõi mọi động tĩnh bên ngoài.
Không may cho ông, nằm gọn trong hốc săng lẻ cổ thụ là một tổ kiến lửa to lù lù như ụ mối. Vỡ tổ. Lũ kiến hiếu chiến lao ra bò râm ran khắp người ông. Chúng nhằm những chỗ hiểm trên người ông mà cắn; kẽ chân, nách, bụng, bẹn... nhức buốt, tê dại. Ông nghiến răng nhìn nàng đi qua, đi lại trước hốc cây săng lẻ, dáng vẻ thấp thỏm, nôn nóng như muốn người khác chú ý đến mình. Không khéo lại chỉ điểm cho quân địch đang ẩn nấp đâu đây cũng nên!? Ông cảnh giác rồi cọ lưng lên hốc cây cho những vết kiến cắn đỡ đau nhức... Nắm chắc cây súng trên tay, nhẹ nhàng lên đạn, sẵn sàng hành động khi tình huống bất trắc xảy ra. Ông có cảm giác tâm trạng mình căng cứng như dây nỏ đã lên nẫy...
Dưới suối, nàng kiên nhẫn dùng chiếc gáo làm bằng vỏ trái bầu khô múc nước đổ vào ống bương. Nàng đeo bương nước đầy ắp trên vai, mắt len lén nhìn trước, nhìn sau rồi để lại vật gì trên phiến đá. Bóng nàng vừa khuất sau hẻm núi ông đã nhảy phốc ra khỏi hốc cây, thoát khỏi lũ kiến. Toàn thân ông nhức buốt tê dại, lưng áo ướt sũng mồ hôi. Người gì đâu... trông tử tế... thế mà...! câu nói bị bỏ lửng sau tiếng chép miệng thở dài. Ông phát hiện trên phiến đá có một gói thuốc rê, những điếu thuốc quấn gọn gàng và được gói bọc cẩn thận bằng những chiếc lá cà boong, cả tuần sau đó, những hành động đáng ngờ của nàng và gói thuốc rê luôn ám ảnh trong tâm trí ông. Gói thuốc rê ám chỉ điều gì?!
Tổ ba người do ông làm tổ trưởng được phân công phát rẫy cùng gia đình mẹ Sao. Chồng mẹ Sao hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, mẹ có một người con gái tên là Y May cũng trạc tuổi nàng. Ông bất ngờ đến sững người khi nhận ra nàng chính là con gái của mẹ Sao. Tâm trạng ông bồi hồi pha chút ngờ vực; trận tập kích bất ngờ của địch, những hành vi đáng nghi và gói thuốc rê trên phiến đá... Trước những suy luận logic như vậy! Ông tự nhủ cần phải cảnh giác! Ông vừa làm vừa để mắt canh chừng mọi hành động của nàng. Những đường dao phát trên tay ông mạnh và ngọt hơn, có lúc ông phải kìm tay phát lại vì sợ đường dao quá rộng sẽ làm địch phát hiện và cho máy bay ném bom hay nã pháo vào đánh phá.
Hai người im lặng làm việc. Sự im lặng kéo dài cho tới khi cây ngô lớn ngang ống chân, mọi người sung sướng nhìn nương ngô xanh tốt mà hân hoan chờ ngày trẩy bắp đang đến gần. Nhưng, niềm vui ngắn chẳng tày gang! Mọi người đang phấn khởi vun gốc chăm bón cho ngô thì pháo địch nã xuống cấp tập, dồn dập hết đợt này đến đợt khác. Ruộng ngô, nương sắn của các gia đình trong bản bị pháo dập nát nhừ. Thế là đã rõ, có ả chỉ điểm địch mới cắt tọa độ chuẩn như vậy!...". - Bồng súng nấp sau tảng đá mồ côi giữa ruộng, ông dằn vặt với suy nghĩ của mình. Có ai đó từ phía sau đẩy ông ngã chúi vào hốc đá rồi nằm đè lên người ông. Ông chưa kịp trở tay thì một tiếng nổ khô khốc vang lên, đất đá bay ràn rạt, những mảnh pháo vút vào không gian nghe chiu chiu ghê rợn. Khi bụi đất loãng ra, ông mới nhận ra Y May đang nằm ngất lịm trên người ông, máu từ vết thương trên vai nàng thấm đẫm ngực áo của ông. Y May vừa lấy thân mình che chở cho ông. Cứu ông thoát chết trong gang tấc! Ông ôm Y May trong tay, vặt nắm lá tàu bay bỏ vào miệng nhai cảm giác đắng ngắt, ông xé chiếc áo đang mặc trên người băng bó vết thương cho Y May rồi cùng mọi người đưa nàng về trạm xá của đơn vị cấp cứu.
Y May nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, nét mặt thanh thản như nàng tiên. Biết ông vào, nàng nhìn ông qua đôi mắt nhắm hờ, nở nụ cười hiền dịu trên khoé môi tươm tướp máu.
- Bộ đội Việt Nam không sao chứ? - Nàng hỏi, ánh mắt nhìn ông ngân ngấn nước.
... Hơn nửa tháng trời Y May nằm điều trị tại trạm xá của đơn vị, ông thường xuyên đến thăm và chăm sóc nàng thay mẹ Sao.
- Sao hôm đó anh không ra với Y May. Bộ đội thấy em xấu lắm à?! - Khi hai người đã trở nên thân thiết nàng trách.
- Ơ... ờ ! Hôm nào...! - Ông bối rối.
- Hôm ở ngoài suối, em đem cho anh gói thuốc rê, biết anh ngồi trong hốc săng lẻ nên để nó lên phiến đá! - Y May thỏ thẻ, lúc này trông mặt nàng hiền dịu và đáng thương biết bao.
- Có... có... Đây...! - Ông ấp úng rồi lấy ra gói thuốc rê được cất giữ cẩn thận ông vẫn mang theo, định bụng có dịp sẽ hỏi nàng xem nó ám chỉ điều gì.
Nghe Y May nói, ông đã hiểu được ý nghĩa của gói thuốc rê trên phiến đá. Nỗi băn khoăn trong lòng ông bấy lâu nay chợt tan biến đi đâu mất, thay vào đó là cảm giác ân hận xâm chiếm trong lòng. Ông thấy mình thật nông nổi vì đã nghĩ xấu và nghi oan cho nàng. Cũng may ông còn giữ được bình tĩnh! Không thì chẳng biết mọi chuyện sẽ đi đến đâu!? Ông cảm thấy mặt mình nóng ran như ngồi trước đống lửa khi nàng nhắc đến chuyện bên bờ suối Bản Nhích.
- Em biết trong hốc cây có tổ kiến lửa nên về sớm để anh ra. Nếu không kiến đã cắn chết anh rồi! - Nàng hóm hỉnh.
Đầu mùa mưa năm 1971, đơn vị ông được lệnh cấp tốc lên đường thực hiện nhiệm vụ đột xuất. Thời gian gấp gáp khiến ông chẳng có thời gian báo tin cho Y May và mẹ Sao biết. Khi đơn vị hành quân ngang qua suối Bản Nhích ông mới có dịp gặp lại Y May khi nàng ra lấy nước. Nghe ông nói lời từ biệt, Y May nhìn ông bằng ánh mắt đắm đuối pha chút thảng thốt chơi vơi. Nàng khóc, những giọt nước mắt nóng hổi ngậm ngùi lăn dài xuống hai gò má ửng hồng. Như nhận thấy quãng thời gian xa nhau vời vợi phía trước, nàng cắt phăng những sợi tóc óng mượt của mình rồi những ngón tay thon dài của nàng thoăn thoắt kết những sợi tóc lại thành một sợi dây, lặng lẽ buộc vào cổ tay ông. Trong giây phút bịn rịn ấy, hai người muốn nói với nhau nhiều lắm mà sao trong lòng bối rối chẳng nói nên lời. Dù không nói ra nhưng ông hiểu những tâm sự mà nàng gửi gắm trong chiếc vòng tóc đen nhánh nàng vừa thắt lên cổ tay chai sạm của ông.
Rồi nhiệm vụ người lính cứ cuốn lấy ông, ông cùng đồng đội rong ruổi khắp các chiến trường trên đất bạn. Trong ba lô của ông, ngoài những trang thiết bị của một người lính còn có những lá thư quê nhà và một kỷ vật đặc biệt - chiếc vòng bằng tóc của Y May.
Ngày 22 tháng 2 năm 1973, trên đường hành quân tiến công vào giải phóng Tha Leng - Lào Ngam - Sa-ra-van, đơn vị ông tình cờ gặp đoàn văn công của quân đội Pa-thét Lào trên đường đi biểu diễn phục vụ các đơn vị đang chiến đấu trên chiến trường Nam Lào. Một buổi giao lưu văn nghệ "dã chiến" được tổ chức chóng vánh ngay trên đường hành quân. Điệu Lăm vông, khúc Lăm tơi lại cất lên, tiếng hát điệu múa như lướt trên dòng Sê Kông miên man sóng nước. Điệu múa, câu hát đã giúp ông nhận ra Y May chính là cô diễn viên xinh đẹp đang thể hiện những động tác uyển chuyển của điệu múa "Hoa Chămpa". Sau bao năm xa cách, giờ gặp lại nàng da trở thành một người chiến sĩ rắn rỏi dãi dầu mưa nắng. Hai người bạn cũ, hai người đồng chí gặp nhau, niềm vui đầy ắp như ánh nắng xuân rạo rực trên cung đường ra trận.
- Bộ đội Liệu! Đúng là "xiều"* (Xiều: Người bạn thân, người anh em) Liệu thật rồi! - Y May ngỡ ngàng thốt lên rồi chạy lại ôm chầm lấy ông, nước mắt nàng rơi xuống vai áo ông nóng hổi. Tiếng khóc nghẹn ngào của Y May cùng những lời động viên an ủi của ông lẫn trong tiếng vỗ tay rào rào và ánh mắt ngỡ ngàng của mọi người xung quanh.
Trong giây phút xúc động đó, hai người tranh thủ hỏi han đủ chuyện về nhau. Y May khoe: Sau ngày ông đi, nhờ hát hay, múa dẻo, năm 1972 cô được chọn sang Việt Nam học khoá đào tạo diễn viên múa của Trường văn hoá - nghệ thuật tỉnh Nghệ An. Hoàn thành khoá học, Y May về nước phục vụ trong đoàn văn công Pa-thét Lào. Đoàn đang đi biểu diễn phục vụ chiến đấu trên chiến trường nên mới có cuộc gặp gỡ tình cờ thú vị trên đường hành quân. Trong không khí ấm áp của buổi chiều hôm, ông có cảm giác như thoang thoảng đâu đó mùi hương nồng đượm của hoa chăm-pa trên những vùng đất mà ông và đồng đội đã đi qua.
- Khi nào có dịp! Anh nhớ về Bản Nhích thăm mẹ và em nhé! Mẹ nhắc anh nhiều lắm đấy...! Trước khi lên đường Y May nói với theo, rồi bóng cô nhanh chóng hoà cùng đoàn quân đang tiến lên phía trước.
Tháng 2 năm 1979, sau mười một năm sống, chiến đấu trên đất bạn Lào, ông vê nước mang theo nỗi băn khoăn canh cánh trong lòng vì không có dịp trở lại Bản Nhích trên cao nguyên Bô-lô-ven thăm mẹ Sao và Y May được. Trong cuốn hồi ký của mình ông viết:
Ngày 2 tháng 2 năm 2000.
Có ai đọc được những dòng chữ này, nếu biết Y May diễn viên của đoàn văn công Quân đội Pa-thét Lào, người Bản Nhích thì xin hãy nhắn tới bà hoặc con cháu của bà rằng: Tôi luôn nhớ về những ngày tháng khó khăn, gian khổ... cùng tấm lòng thuỷ chung son sắt và những kỷ niệm tươi đẹp trên đất nước Lào xa xôi.
Chiều nay, sân chùa trải đầy hoa đại. Chớm thu, những bông hoa đại mịn màng lặng lẽ rơi trước những cơn gió thu nhè nhẹ. Tôi không còn được lẽo đẽo theo ông đến chùa lễ Phật nữa. Tôi đứng nhìn những cánh hoa chăm-pa rải khắp sân chùa mà nhớ đến ông, nhớ những câu chuyện mà ông đã kể và hình dung ra hình ảnh bà Y May - nàng tiên của ông. Xế chiều! Có lẽ! giờ này! Ở đâu đó trong vũ trụ bao la ông cũng đang nhớ về nàng tiên của mình, nhớ đến điệu Lăm vông, khúc Lăm tơi trên đất bạn và cả không gian tràn ngập mùi hương nồng dìu dịu của những cánh hoa chăm-pa trắng mịn như nhung.
|