Huyền thoại cô Ba Định
Cuộc đời và đóng góp của Cô Ba Định
HUYỀN THOẠI CÔ BA ĐỊNH
Lịch sử dân tộc Việt Nam là câu chuyện dựng nước và giữ nước, trong đó vai trò phụ nữ luôn vô cùng đặc biệt. Họ không chỉ là người mẹ hiền, người vợ đảm đang mà còn là những chiến sĩ kiên cường, bất khuất, góp phần to lớn vào các cuộc kháng chiến vĩ đại cũng như công cuộc xây dựng đất nước. Từ bao đời nay, phụ nữ Việt Nam đã âm thầm nuôi dưỡng và sản sinh ra những thế hệ anh hùng, làm rạng danh non sông gấm vóc. Xứng đáng với tám chữ vàng Bác Hồ trao tặng: “Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang”, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam hiện hữu trong từng chặng đường thăng trầm và vững mạnh của dân tộc. Trong dòng chảy ấy, Nguyễn Thị Định, người con gái xứ Dừa, là biểu tượng sáng ngời. Là nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, bà đã khắc dấu ấn bất tử vào lịch sử bằng lòng yêu nước, trí tuệ, bản lĩnh và sự hy sinh trọn đời vì Tổ quốc.
Sinh tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre trong gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước, bà là út của 10 anh em, phải chịu khó học hỏi chữ qua sự hướng dẫn của anh trai vì hoàn cảnh gia đình khó khăn. Từ nhỏ, bà đã chứng kiến sự áp bức của thực dân Pháp và phong kiến, hình thành sớm tình thương sâu sắc cho tầng lớp nghèo và căm ghét sự bất công trong xã hội. Năm 1936, lúc vừa tròn 16 tuổi, bà tham gia hoạt động cách mạng đầu tiên, đảm nhận các nhiệm vụ giao liên, rải truyền đơn và vận động quần chúng tham gia phong trào yêu nước. Hai năm sau, năm 1938, bà được chính thức kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, và cùng năm đó xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - một cán bộ cấp cao của Tỉnh ủy Bến Tre, người đã dìu dắt bà đi sâu vào con đường cách mạng.
Cuộc hạnh phúc ngắn ngủi đã kết thúc ngay khi cuộc sống cách mạng bắt đầu gay go: năm 1939, chồng bị thực dân Pháp bắt đày Côn Đảo vì hoạt động chống thực dân, và một năm sau, khi bà vừa sinh con trai duy nhất là Nguyễn Ngọc Minh được 3 ngày, cả mẹ con cùng bị giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé - nơi có điều kiện sống khắc nghiệt, kẻ địch tra tấn dã man các tù nhân cách mạng. Trong 3 năm giam cầm, bà đã tổ chức các hoạt động đấu tranh cho quyền lợi của tù nhân, tuyên truyền ý chí cách mạng cho chị em tù nhân, biến khu nhà tù thành một sân trường đấu tranh quyết liệt. Do bị bệnh nặng do thiếu ăn và sự tra tấn, bà được kẻ địch thả về quản thúc tại địa phương năm 1943, khi còn mang theo vết thương và nỗi đau mất chồng vĩnh viễn khi nhận tin ông đã hy sinh tại lao tù Côn Đảo. Sau khi hồi phục sức khỏe, bà nhanh chóng liên lạc lại với tổ chức Đảng, tham gia phong trào Việt Minh và dẫn đầu hàng nghìn quần chúng giành chính quyền tại thị xã Bến Tre trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi bà mới 25 tuổi.
Năm 1946, tình hình chiến trường Nam Bộ trở nên gay go khi thực dân Pháp quay lại xâm lược, và phong trào cách mạng miền Nam gặp khó khăn lớn do thiếu vũ khí và nhu yếu phẩm. Bà được giao chức trưởng đoàn vượt biển ra miền Bắc báo cáo tình hình chiến trường và xin vũ khí chi viện cho quân đội giải phóng Nam Bộ. Đây là nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm, vì phải vượt qua vòng phong tỏa nghiêm ngặt của quân Pháp, đối mặt với sóng to gió lớn trên biển Đông. Bà cùng 3 đồng chí khác và 4 thuyền viên thuê, lái một con tàu nhỏ khởi hành từ Cồn Lợi, xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, vượt qua nhiều bão tố và tuần tra của quân Pháp, cuối cùng đạt đến miền Bắc an toàn. Sau khi báo cáo tình hình cách mạng miền Nam cho Bác Hồ và Trung ương Đảng, bà đã vận chuyển 12 tấn vũ khí chi viện, đưa con tàu trở về miền Nam an toàn tại cùng địa điểm khởi hành. Chuyến tàu thành công này mở ra tiền đề cho tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển - một kỳ tích vĩ đại trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giúp cung cấp vũ khí và nhu yếu phẩm cho quân đội giải phóng miền Nam trong suốt giai đoạn kháng chiến.
Năm 1960, bà làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre và lãnh đạo phong trào Đồng khởi đợt I vào ngày 17 tháng 1 năm 1960, sự kiện mở đầu cho cao trào nổi dậy toàn miền Nam. Điểm sáng tạo đặc biệt của phong trào này là bà đã xây dựng "Đội quân tóc dài": lực lượng phụ nữ nông dân chân chất được huấn luyện thành chiến sĩ dũng cảm, biến thành biểu tượng sức mạnh quần chúng và vai trò độc đáo của phụ nữ trong cuộc kháng chiến. Bà đã hun đúc tinh thần cách mạng cho các phụ nữ nông dân, giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi và trở thành những chiến sĩ kiên cường, đối đầu trực tiếp với quân thù trên mọi mặt trận. Trong lúc phong trào đang diễn ra quyết liệt, bà nhận tin con trai duy nhất đã bệnh mất ở miền Bắc, nhưng bà đã nén đau thương, không để ảnh hưởng đến công việc, tiếp tục lãnh đạo phong trào đến thắng lợi. Cuộc Đồng khởi Bến Tre lan tỏa ra toàn miền Nam, giúp giành chính quyền tại hàng loạt xã và huyện, góp phần thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày 20 tháng 12 năm 1960.
Năm 1965, bà được giao chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, trở thành người phụ nữ đầu tiên giữ vị trí này trong lịch sử quân đội Việt Nam. Bà đã tổ chức và huấn luyện các đơn vị quân đội, vận động quần chúng tham gia chiến trường, đảm bảo nguồn cung cấp vũ khí và nhu yếu phẩm cho quân đội giải phóng, đồng thời chỉ huy các cuộc chiến đấu thành công chống lại quân Mỹ và chính quyền tay sai Sài Gòn. Năm 1974, bà chính thức được phong hàm Thiếu tướng, trở thành nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, khẳng định vị thế vượt trội của phụ nữ trong quân đội nhân dân. Trong mùa Xuân năm 1975, bà giữ chức Phó Tổng tư lệnh Quân giải phóng, tham gia chỉ huy 5 cánh quân tiến về giải phóng Sài Gòn, đóng góp quan trọng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước.
Sau thống nhất đất nước, bà giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Đảng và Nhà nước: Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IV, V, VI), Đại biểu Quốc hội các khóa VI đến VIII, năm 1981 trở thành Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đầu tiên của Việt Nam, và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà cũng là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Dân chủ Quốc tế, hoạt động để thúc đẩy hữu nghị quốc tế và công cuộc bình hòa thế giới, đồng thời là Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam - Cuba, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai dân tộc. Bà luôn giữ mối thâm tình với đồng chí cũ từng vào tù, ra tội, đặc biệt là những người già yếu, bệnh tật và nghèo khó, thường gởi quà và tiền hỗ trợ cho họ. Bà cũng rất quan tâm đến gia đình, chăm sóc mẹ chồng và cháu, luôn giữ gìn nét đẹp trung hậu, đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.
Bà từ trần ngày 26 tháng 8 năm 1992 tại TP. Hồ Chí Minh, hưởng thọ 72 tuổi. Năm 1995, bà được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận sự hy sinh và đóng góp vô giá của bà cho đất nước. Để tri ân công lao, tỉnh Bến Tre đã lập Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, khánh thành vào năm 2003 và nâng cấp hoàn thành vào năm 2025. Hiện nay, có nhiều tuyến đường, trường học và tổ chức tại Việt Nam mang tên Nguyễn Thị Định, như Trường Trung học phổ thông Nguyễn Thị Định tại Bến Tre, Đường Nguyễn Thị Định tại nhiều tỉnh thành. Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng có Giải thưởng Nguyễn Thị Định dành cho cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp có thành tích xuất sắc, và chương trình học bổng Nguyễn Thị Định hoạt động liên tục từ năm 1996 đến nay, hỗ trợ cho học sinh nghèo có thành tích học tập tốt.
Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Thị Định luôn là nguồn cảm hứng và động lực cho các thế hệ sau, khuyến khích mọi người cống hiến cho sự phát triển của đất nước với tinh thần cách mạng, ý chí kiên cường và lòng yêu nước trọn đời. Bà là tấm gương soi sáng cho các cán bộ, giảng viên, sinh viên và mọi người dân Việt Nam, nhắc nhở chúng ta về những hy sinh đã được bồi đắp cho nền độc lập, tự do của đất nước.



