Cựu chiến binh

HUYỀN THOẠI NHỮNG CON TÀU

Vĩnh Long13/01/2026Võ Thị Ngọc Oanh (xã đoàn Mỹ Chánh Hòa)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường Hồ Chí Minh trên biển với những “con tàu không số” đã đi vào lịch sử như một huyền thoại. 50 năm - kể từ ngày con tàu đầu tiên xuất phát từ bến Thạnh Phong (Thạnh Phú, Bến Tre); và suốt 15 năm ròng rã, những con tàu không số đã chuyển hàng ngàn tấn vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần quan trọng vào công cuộc giải phóng đất nước.

Con đường huyền thoại ấy được bắt đầu từ sau sự kiện Đồng Khởi - năm 1960 và chỉ trong vòng hơn một năm, phong trào cách mạng lan rộng từ Nam bộ đến Khu 5, từ Tây nguyên xuống đồng bằng. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị chỉ thị công tác vận tải và yêu cầu đảm bảo vũ khí cho Nam bộ là nhiệm vụ vô cùng cấp bách. Nhưng vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam khi ấy không còn con đường nào khác là đi bằng đường biển. Các tỉnh Nam bộ được giao nhiệm vụ tổ chức cho thuyền ra miền Bắc vừa để thăm dò, vừa để kiểm tra, khảo sát luồng lạch, bến bãi, chuẩn bị cho kế hoạch lâu dài vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam. Đại tá Nguyễn Văn Bạch – Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP.HCM nhớ lại: Bến Tre là nơi mở màn phong trào Đồng Khởi cũng chính là địa phương đi đầu cho chuyến vượt biển ra Bắc. Sau một thời gian bí mật, khẩn trương chuẩn bị, chiều tối ngày 1-6-1961, tại bãi biển Thạnh Phong, một con thuyền gỗ cùng 6 cán bộ chiến sĩ lặng lẽ rời bến. Và, chỉ sau 8 ngày, thuyền đã cập vào bờ biển Hà Tĩnh. Thành công này là bước khởi đầu quan trọng để các thuyền của Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre 2 và Bà Rịa nối nhịp cuộc hành trình. Đến tháng 2-1962 đã có 5 chuyến với 34 cán bộ, chiến sĩ vượt biển ra miền Bắc thành công.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trương Văn Nghĩa (phải) tặng hoa chúc mừng
đêm giao lưu. Ảnh: P.Y

Bắt đầu từ những con tàu mở đường, cuộc hành trình đưa vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam kéo dài ròng rã suốt 15 năm. Ứng phó với sự khốc liệt của chiến tranh, nhiều lần phải thay đổi bến bãi, nhưng hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã vượt qua gian lao, thử thách để chiến trường miền Nam có thêm nhiều vũ khí. Biết bao nhiêu vất vả, hy sinh mà họ phải vượt qua. Song, gian khổ nhất có thể đó là những năm địch rải chất độc hóa học, làm cây rừng cháy rụi. Kho vũ khí bị lộ thiên, phải che chắn bằng cành cây khô, trái bần, trái đước và bứng từng cây sú ở xa đem về trồng… Sống dưới lằn đạn, tại nơi bị rải chất độc hủy diệt nhưng không một ai xin chuyển đi nơi khác. Gần 15 năm, đã có rất nhiều những mất mát, hy sinh bên cánh rừng khi làm nhiệm vụ bảo vệ, vận chuyển vũ khí và có cả những người vĩnh viễn ở lại biển khơi. Câu chuyện về con thuyền vận chuyển vũ khí từ Trà Vinh về Bến Tre gặp tàu hải quân vùng bốn chiến thuật của địch phải tự hủy để bảo đảm bí mật vẫn luôn làm se thắt mỗi trái tim. Bị địch phát hiện, các chiến sĩ trên thuyền nổ súng đánh trả. Cùng lúc, lực lượng bảo vệ trên bờ và thuyền Trà Vinh bắn thu hút địch. Nhưng do cự ly quá xa, sự chi viện không hiệu quả. Biết không thể thoát được với trận đấu không cân sức, một vùng chớp màu đỏ thẫm bùng sáng. Một tiếng nổ lớn làm chấn động một vùng biển Thạnh Phong. Tất cả lặng người…

Ký ức rực lửa

50 năm, lần đầu tiên vượt biển từ Nam ra Bắc như vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của những chiến sĩ cảm tử. Thuyền ra khơi phải cải trang thành những chiếc thuyền ngư dân đánh cá. Phương tiện đi biển cũng không có gì ngoài một chiếc la bàn nhỏ. Và, những chiến sĩ ấy cũng không mang theo bất kỳ giấy giờ tùy thân nào, ngoại trừ trái tim nóng hổi tràn đầy nhiệt huyết cách mạng. Mô tả về tàu không số mở đường, ông Nguyễn Văn Đức - cựu chiến binh tàu không số Bến Tre, là một trong 6 người đầu tiên vượt trùng dương vào ngày 1-6-1961 đã làm mọi người giật mình: Gọi là thuyền, nhưng thực chất nó là chiếc xuồng gỗ nhỏ thôi. Hãy tưởng tượng, ngồi trên xuồng mà khoát nước rửa tay được, 6 anh em chúng tôi kéo được nó lên bờ để sửa chữa thì chiếc xuồng ấy bao lớn!

Song, vấn đề của những người mở đường ngày ấy không phải là đối mặt với trở lực của thiên nhiên, của điều kiện khó khăn về cơ sở vật chất mà chính là làm thế nào để qua mắt địch, chạm chân lên đất Bắc và hoàn thành sứ mệnh của mình. Thuyền trưởng Đặng Bá Tiên vẫn nhớ như in lần ông được bà Nguyễn Thị Định gọi lên để giao nhiệm vụ “đi báo cáo tình hình ở miền Bắc”. Một câu hỏi thăm dò và người chiến sĩ vừa quá tuổi 20 đã không làm người chỉ huy thất vọng: “Trong hoàn cảnh này chỉ có đi đường biển ra Bắc mới an toàn” – ông Bá Tiên đề xuất. Được giao nhiệm vụ thuyền trưởng, vậy là ông đi “nắm tình hình”. Với kinh nghiệm của người dân xứ biển, ông Bá Tiên đi một mạch ra tận vĩ tuyến 17 và sau 15 ngày đã trở lại Bến Tre với chiếc thuyền mà ông mua được ở Bà Rịa với giá 3.000 đồng. “Vội vàng trở lại và gấp rút chuẩn bị để chuyến vượt ra Bắc đầu tiên phải trong tháng 6, vì nếu chần chừ sẽ qua tới mùa mưa bão” – ông Đặng Bá Tiên bồi hồi kể lại. Sau 8 ngày lênh đênh trên biển, nhắm sao Bắc Đẩu định hướng, những “ngư dân” Bến Tre đã chạm đất Hà Tĩnh. Niềm vui vỡ òa.

Tiếp sau đó là thuyền từ Cà Mau, Trà Vinh, Bà Rịa và Bến Tre thêm một lần nữa lên đường ra Bắc. Nhưng, không phải chuyến đi nào cũng suôn sẻ. Có thuyền năm lần bảy lượt mới chạm được đích đến. Cựu chiến binh tàu không số Vũng Tàu - Nguyễn Sơn không quên lần đầu tiên ông được giao nhiệm vụ thuyền trưởng đưa tàu vượt đại dương. Năm 1961, tàu ra khơi lần đầu nhưng được 4 ngày thì gặp sóng to, gió lớn phải trở lại bờ. Đến năm 1962, lại một lần nữa vượt biển nhưng tàu chỉ chạy được 2 ngày đêm thì bị phá nước. Sau khi lấy thùng chứa nước bổ đôi để… vá thuyền, chạy được vài ngày thì phải tấp vào bờ để sửa. Không ngờ, nơi họ cập bến là vịnh Cam Ranh, vậy là cả 6 chàng trai tuổi từ 20-23 bị địch bắt. Hai tháng tra tấn ròng rã, chúng đành trả tự do cho những “ngư dân” này. Hết tiền, hết lương thực, thuyền lại bị hư nhưng chính sự cưu mang của người dân địa phương mà các “ngư dân lạc đường” này được trở lại biển. Rồi cuộc hành trình lại đưa họ chạm chân tại đảo Hải Nam, Trung Quốc. 6 chiến sĩ kiên trung ấy được “bay” về Hà Nội qua đường ngoại giao.

Khó khăn, trở lực nhưng với người dành trọn trái tim cho tình yêu quê hương thì chẳng có gì làm họ chùn bước. Hết nước ngọt, họ uống nước biển mặn đắng hay kể cả phải uống nước tiểu của mình. Nhưng, dù trong điều kiện ngặt nghèo nhất, sự đoàn kết, tình đồng đội của họ càng thấm đượm. Ông Nguyễn Sơn kể, sau khi ra tù, vượt biển một ngày đêm mọi người mới phát hiện trên thuyền hết nước ngọt, vì thùng đựng nước bị thủng. “Nấu nước biển để lấy nước ngưng tụ uống. Nhưng, nước ngưng tụ cũng chỉ đủ đọng lại trên nắp xoong thôi. Nói thật, vừa đói, vừa khát, mỗi người có thể uống được cùng lúc mấy chai nước, vậy mà chỉ có cái nắp xoang, 6 người liếm không hết! Với chúng tôi, thiếu ăn, thiếu mặc khắc phục được, nhưng thiếu vũ khí là điều không thể cho miền Nam lúc bấy giờ. Vậy, nên khi được lệnh ra miền Bắc chuyển vũ khí vào Nam chúng tôi đi liền không hề do dự” - ông Sơn nói. Và, hơn hết đối với họ chính là niềm tin vào Đảng, niềm tin vào chiến thắng. Ông Nguyễn Văn Đức - cựu chiến binh tàu không số Bến Tre rưng rưng kể lại lần gặp Bác Hồ, với chuyến tàu đầu tiên mở đường ra Bắc: “Trời ơi, chúng tôi được gặp Bác Hồ. Đối với chúng tôi, đó là vinh dự quá lớn. Lời ân cần của Bác: “Không những diệt lô-cốt địch; Mỹ sẽ đổ quân vào miền Nam, phải chuẩn bị đánh lâu dài, nhất định phải đánh thắng giặc Mỹ” Đó là lời dạy mà suốt cuộc đời của anh em chúng tôi đã mang theo và đi sâu vào trái tim, thớ thịt. Suốt hành trình 15 năm lênh đênh trên biển, không lúc nào chúng tôi quên lời dạy ân cần của Bác”.

***

Tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả vì hòa bình độc lập, vì sự bình yên của quê hương. Không phải chỉ những chiến sĩ của đoàn tàu không số mà tất cả những ai yêu quê hương đều luôn hướng về cội nguồn. Như lời má Mười Riều – Bà Rịa Vũng Tàu, nay đã 95 tuổi: Lúc đó, tôi gửi cho bà chị 10 lượng vàng và khi nghe tin mấy chú cần tiền mua tàu ra miền Bắc, tôi đưa liền. Lê Hà là đứa con khôn ngoan, tôi thương nhất và nhờ nó nhiều nhất nhưng tôi cũng cho nó đi chuyến đó. Tôi không tiếc gì với cách mạng. Đâu có gì mà tiếc, chỉ mong cho mau chiến thắng thôi!”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn