Bài viết

KỂ CHUYỆN TRƯỜNG SƠN SỐ 75: CHẠY ĐUA CÙNG TIN TỨC

Ngày 21 tháng 6, tôi dự giao ban của Ban. Hai tháng vừa qua, từ 21 tháng 4 đến 15 tháng 6, chiến trường miền Trung Trung bộ chuyển động mạnh. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 12.500 tên địch, trong đó có 13 tiểu đoàn, 47 đại đội, 113 trung đội; san bằng 250 cứ điểm, phá bung 30 khu dồn, giải phóng 10 vạn dân. Những con số ấy đi thẳng vào bản tin của chúng tôi. Bình Định, Quảng Nam có binh lính ngụy chống lệnh hành quân. Hàng nghìn gia đình binh sĩ ở Bình Định kéo đi đấu tranh, đòi chồng con trở về làm ăn. Chỉ trong mười ngày, từ 18 đến 28 tháng 5, 15.000 đồng bào Hoài Nhơn, Phù Mỹ bao vây, bức rút 11 đồn bốt, giành lại ba xã về vùng giải phóng. Ở những nơi dân vừa thoát khỏi khu dồn, công việc lập tức chuyển sang chuyện làm ăn. Ngành Nông nghiệp đưa xuống 6.000 lưỡi rựa, 1.000 lưỡi cuốc, 55 ki-lô-gam hạt rau giống và một tấn phân đạm. Chiến tranh hiện ra trên bản tin không chỉ bằng những trận đánh. Có những bài về đồng bào đứng lên: *Đẩy lùi xe tăng địch*, *San bằng đồn bốt địch*, *Như chim sổ lồng*. Có những bài đi vào binh vận: *Sự tỉnh ngộ của trung úy K'Rông*, *Con đường sống duy nhất của người lính Sài Gòn*, *Cuộc hành quân phải bỏ dở*. Xen vào đó lại là một trường cấp một nội trú đầu tiên ở Gia Lai, một buổi tập luyện đánh chốt. Bản tin của chúng tôi cứ thế đi theo nhịp chiến trường: đánh địch, giành dân, binh vận, rồi dựng lại cuộc sống. Ngày 1 tháng 7, tôi tròn 28 tuổi. Trời trong xanh, nắng vàng dịu. Một sinh nhật không bánh, không tiệc. Chung quanh tôi là tin tức từ khắp miền Trung dồn về, mỗi nơi một giọng, một nhịp. Chính những tin ấy làm ngày sinh nhật của tôi có một không khí rất khác: cái hừng hực của phong trào từ phía trước truyền về gần như sờ thấy được. Tôi vẫn nhớ lời các thầy dạy nghề: làm báo phải có trái tim nóng và cái đầu lạnh. Trái tim phải đủ nóng để đi cùng cuộc sống, để thấy một trận đánh, một cuộc nổi dậy, một gia đình vừa trở về vùng giải phóng không chỉ là những con số. Nhưng khi cầm bút biên tập, đầu phải đủ lạnh để từng chi tiết, từng co

Hà Nội22/08/2026Xã Tân An (Đoàn xã Tân An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 21 tháng 6, tôi dự giao ban của Ban.

Hai tháng vừa qua, từ 21 tháng 4 đến 15 tháng 6, chiến trường miền Trung Trung bộ chuyển động mạnh. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 12.500 tên địch, trong đó có 13 tiểu đoàn, 47 đại đội, 113 trung đội; san bằng 250 cứ điểm, phá bung 30 khu dồn, giải phóng 10 vạn dân.

Những con số ấy đi thẳng vào bản tin của chúng tôi.

Bình Định, Quảng Nam có binh lính ngụy chống lệnh hành quân. Hàng nghìn gia đình binh sĩ ở Bình Định kéo đi đấu tranh, đòi chồng con trở về làm ăn. Chỉ trong mười ngày, từ 18 đến 28 tháng 5, 15.000 đồng bào Hoài Nhơn, Phù Mỹ bao vây, bức rút 11 đồn bốt, giành lại ba xã về vùng giải phóng.

Ở những nơi dân vừa thoát khỏi khu dồn, công việc lập tức chuyển sang chuyện làm ăn. Ngành Nông nghiệp đưa xuống 6.000 lưỡi rựa, 1.000 lưỡi cuốc, 55 ki-lô-gam hạt rau giống và một tấn phân đạm.

Chiến tranh hiện ra trên bản tin không chỉ bằng những trận đánh.

Có những bài về đồng bào đứng lên: Đẩy lùi xe tăng địch, San bằng đồn bốt địch, Như chim sổ lồng. Có những bài đi vào binh vận: Sự tỉnh ngộ của trung úy K'Rông, Con đường sống duy nhất của người lính Sài Gòn, Cuộc hành quân phải bỏ dở. Xen vào đó lại là một trường cấp một nội trú đầu tiên ở Gia Lai, một buổi tập luyện đánh chốt.

Bản tin của chúng tôi cứ thế đi theo nhịp chiến trường: đánh địch, giành dân, binh vận, rồi dựng lại cuộc sống.

Ngày 1 tháng 7, tôi tròn 28 tuổi.

Trời trong xanh, nắng vàng dịu.

Một sinh nhật không bánh, không tiệc. Chung quanh tôi là tin tức từ khắp miền Trung dồn về, mỗi nơi một giọng, một nhịp. Chính những tin ấy làm ngày sinh nhật của tôi có một không khí rất khác: cái hừng hực của phong trào từ phía trước truyền về gần như sờ thấy được.

Tôi vẫn nhớ lời các thầy dạy nghề: làm báo phải có trái tim nóng và cái đầu lạnh.

Trái tim phải đủ nóng để đi cùng cuộc sống, để thấy một trận đánh, một cuộc nổi dậy, một gia đình vừa trở về vùng giải phóng không chỉ là những con số. Nhưng khi cầm bút biên tập, đầu phải đủ lạnh để từng chi tiết, từng con số đều đứng được.

Lúc ấy Phân xã đã có 42 người.

Hai mươi hai phóng viên được chia thành các tổ, tỏa xuống chín tỉnh. Số còn lại làm biên tập, kỹ thuật ảnh, kỹ thuật máy ảnh và những công việc phía sau.

Nửa đầu năm, chúng tôi đã phát 493 tin, bài, trong đó có 97 bài và mẩu chuyện. Quân sự chiếm 47 phần trăm, chính trị 34 phần trăm, binh vận và kinh tế mỗi loại 7 phần trăm. Anh em ảnh làm được 7.295 tấm; 135 tấm gửi cho Cờ Giải phóng, Văn nghệ, Hình ảnh Việt Nam; 1.602 tấm được đưa ra triển lãm.

Những bản tin, bài viết, tấm ảnh từ các tổ theo đủ mọi đường về Khu, rồi từ Khu ra Tổng xã. Phần lớn được sử dụng cho báo chí, đài phát thanh ở miền Bắc, Đài Giải phóng, các cuộc triển lãm và cả tuyên truyền tại địa phương.

Một bộ máy báo chí nhỏ nằm giữa rừng mà chân tay đã vươn ra gần khắp chiến trường Khu V.

Nhưng càng tỏa rộng, chuyện phát sinh càng nhiều.

Ở Quảng Nam, Xuân Quang có những ngày làm việc không thật êm.

Quang nóng ruột vì công việc. Có lúc anh tự tiện dùng máy chữ của cơ quan bạn. Một lần còn rút cả tập giấy người ta đang đánh dở ra để lấy máy làm việc của mình. Có hôm mệt quá ngủ thiếp ngay trên bàn. Đi đâu lại ít khi báo.

Mấy chuyện ấy vọng về Khu, khiến chúng tôi lo.

Nhưng quan hệ giữa Quang với cơ quan địa phương không đến mức căng thẳng. Anh vẫn làm việc với mọi người bình thường, vẫn tham gia các việc chung khi sức khỏe cho phép. Những chuyện sinh hoạt va vấp thì anh nhận và sửa.

Cái làm Quang sốt ruột hơn lại là cái đài minh ngữ.

Nó hết pin, nằm im.

Tin, bài từ Quảng Nam vì thế phải gửi bằng đường dây. Đã chậm lại không chắc chắn. Có những thứ gửi đi rồi không biết bao giờ mới tới nơi. Thành thử ở Khu lâu ngày không thấy tin Quảng Nam, trong khi dưới ấy anh em vẫn bám chiến sự, vẫn viết về những vùng vừa giải phóng.

Chiến dịch sắp tới mà đường tin cứ nghẽn như thế thì rất gay.

Giữa bộ phận có trách nhiệm và người trực tiếp phát tin lại chưa thật ăn ý. Điện báo viên phụ trách đài minh ngữ phải về Khu, trực tiếp trình bày tình hình với anh Sinh.

Trong cái bộ máy chỉ có vài chục con người ấy, một cục pin hết cũng đủ làm chậm cả một hướng tin.

Còn đời sống của anh em thì vẫn đan vào công việc.

Chu, Minh, Mùi đã đi chiến dịch. Phú vào viện. Tuyết Trinh đi đón Thùy về, chưa rõ tình hình nên ai cũng lo. Quang còn nhớ mình để lại mấy hộp sữa, nhờ gửi cho Phú một hộp.

Một hộp sữa giữa chiến trường cũng thành chuyện phải nhớ.

Ngày 11 tháng 7, tôi làm việc với anh Phương, Phó trưởng Ban Tuyên huấn Khu. Anh còn có tên Hồ Dưỡng, trước là Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân.

Tôi đưa tin lên, anh sửa từng dòng.

Có những chỗ tôi tưởng đã ổn, qua tay anh chỉ vài nét bút đã khác hẳn. Tôi cứ nhìn những chỗ anh sửa mà học.

Anh nhắc phải làm cho phóng viên nắm nhiệm vụ tuyên truyền từng thời gian, phải đọc nghị quyết của Khu ủy, Tỉnh ủy, phải thường xuyên rút kinh nghiệm nghiệp vụ. Tổ gần thì một vài tháng tổ trưởng về Khu một lần; tổ xa cũng phải giữ liên lạc. Tin phải đều cả ba mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận; cả ba vùng chiến lược: đồng bằng, miền núi, đô thị. Đánh nhau đến đâu cũng phải nhìn thấy việc xây dựng vùng giải phóng đến đó.

Ảnh cũng không chỉ chụp để gửi ra ngoài. Phải làm sao mỗi huyện trong Khu có ảnh để tuyên truyền, triển lãm; rồi còn tìm cách đưa ảnh cách mạng vào sâu trong vùng địch kiểm soát.

Anh Phương rất hiền.

Vợ anh là chị Lụa, công tác bên Phụ nữ Khu. Anh Phò vốn hay đùa, cứ bảo anh Phương thích nhất điệu “múa Lụa”.

Anh Phương chỉ cười.

Ngày hôm sau, chúng tôi lại xuống ao.

Cơ quan đang đào ao thả cá.

Đến 12 tháng 7, các bộ phận đã góp 338 công. Cùng năm đơn vị bạn, Thông tấn xã được Ban biểu dương về tinh thần lao động. Hình ao đã ra, anh em tiếp tục làm mương dẫn nước, thoát nước, chờ ngày 15 đưa nước vào.

Một đội bóng chuyền cũng được lập.

Chiều thứ bảy, sáng chủ nhật, anh em lại ra sân tập.

Ngày 18, chúng tôi bàn tiếp chuyện ảnh.

Cử người đi quanh Khu, điện hỏi Ban Tuyên huấn các tỉnh cần những loại ảnh gì. Dự tính mỗi huyện sẽ được một bộ. Đồng thời điện ra Hà Nội xin Tổng xã gửi giấy ảnh số 3, loại có độ đen trắng tốt, hợp với điều kiện in phóng ở chiến trường.

Trong lúc cơ quan lo từng tờ giấy ảnh, ngoài các tỉnh phóng viên đã lao vào những đợt hoạt động mới.

Cao Tân Hòa sốt suốt một tuần.

Vừa dứt sốt, Hòa lại xuống xã Hoài Châu làm tin. Cô còn xin được ở lại địa phương tới tháng 12 mới về.

Hoàng Chu thì đang bị cuốn vào Nông Sơn.

Cứ điểm vừa giải phóng, Chu viết ngay bài tường thuật trận đánh tiêu diệt hai tiểu đoàn địch, gửi ngày 19 tháng 7.

Nhưng bài không tới.

Nghe bên A4 báo chưa có, Chu viết lại, cụ thể hơn một chút, nhờ một cán bộ mang về.

Vẫn không yên tâm.

Anh lại chữa thêm một lần nữa, gửi qua Tuyên huấn Quảng Đà để điện về Khu.

Một bài báo phải đi ba đường.

Chu còn đưa cho Sư đoàn đánh máy, gửi xuống các đại đội.

Anh đang ở Phòng Tham mưu Sư đoàn để gom tài liệu viết bài tổng hợp chiến dịch. Nhưng nếu chiến dịch phát triển tới trận quyết định thì anh sẽ bỏ Phòng Tham mưu mà đi theo trận đánh.

Bộ chỉ huy tiền phương chuyển chỗ liên tục.

Chuyển đến đâu lại dựng nhà, đào hầm đến đó.

Phóng viên cũng phải làm.

Chu đi cõng gạo.

Cõng gạo xong lại lo bài.

Bài viết được rồi, gửi bằng cách nào?

Anh hỏi hết chỗ này đến chỗ kia, tìm mọi đường có thể. Anh Trung từng hứa sau khi Nông Sơn giải phóng sẽ có công vụ đến lấy bài, nhưng chờ mãi không thấy.

Tin đã khó. Ảnh còn gay hơn.

Theo kế hoạch, Hà phải có mặt ở D8 khi đánh Nông Sơn. Nhưng Hà lại tự đi theo một trung đoàn dự bị. Trận đánh nổ ra, Hà không có mặt. Nông Sơn giải phóng, Chu hẹn về Sư đoàn bàn công việc, Hà cũng không về.

Một trận đánh trọn vẹn, đầy đủ điều kiện để làm ảnh, vậy mà Thông tấn xã không có được bộ ảnh nào.

Chu rất buồn.

Anh quay sang tìm nguồn khác.

May có Thôi, phóng viên của Sư đoàn, chụp được sáu cuốn phim, đủ từ lúc nổ súng đến khi Nông Sơn được giải phóng, rồi cảnh dân trở về.

Chu xin số phim ấy để gửi về Khu.

Địch lại kéo quân đến giải tỏa. E1 và D31 đánh tiếp, diệt thêm hai tiểu đoàn.

Hà vẫn chưa về.

Chu phải viết thư gọi.

Trong khi đó Yên tìm xuống nơi dân vừa trở về, vào trại tù binh khai thác thêm tài liệu để viết bài..

Chu thì khó đi xa. Đường không biết, cơ quan lại chuyển luôn; đi một chuyến, quay về không khéo mất dấu cả sở chỉ huy. Thành thử giữa một chiến dịch mở ra rất nhiều mặt, anh chỉ làm được mảng chiến đấu.

Nguyễn Thụ vừa đến Quảng Đà đã lao xuống Duy Xuyên.

Xuống rồi mới thấy vùng ấy rất khó làm.

Hoạt động quân sự chủ yếu là tập kích lẻ tẻ; phát động quần chúng, tuyên truyền lại thường diễn ra ban đêm. Cứ nằm trong rừng thì chẳng có gì để viết.

Thụ quyết định lên phía tây Duy Xuyên.

An Hòa - Đức Dục đang có chiến sự lớn. Dân được đưa về vùng giải phóng ngày một đông. Muốn biết tình hình thì chỉ còn cách đi xuống.

Nguyễn Xuân Quyết vừa tới Quảng Nam cũng “bay” ngay về Nông Sơn.

Nhưng vẫn chậm.

Dân đã ra gần hết, chỉ còn một số người ở lại giữ của.

Nông Sơn lúc ấy rất vui mà cũng rất căng. Bộ đội, du kích một mặt đánh bọn địch đến giải tỏa, một mặt truy lùng tề điệp, ác ôn và tàn binh. Dân mới về chưa ổn định. Bom pháo vẫn dày. Trị an còn rối.

Quyết không kịp chụp cảnh dân bung ra.

Anh liền đi thẳng ra phía trước, tìm số phòng vệ dân sự vừa quay súng trở về với cách mạng, chụp ngay tại chỗ.

Từ ngày 20 tháng 7, vừa đi vừa hỏi, vừa nhìn, Quyết viết liền ba bài.

Không có thời gian chép lại.

Anh gửi nguyên bản gốc về.

Chữ nghĩa có thể còn vội. Bài có thể còn phải sửa.

Nhưng phải về cho kịp.

Anh dặn mọi góp ý, chỉ thị mới, nhất là ý đồ tuyên truyền, cứ gửi xuống HT 435 Quảng Nam, mật danh Cổ Vũ, nhờ chuyển.

Cứ thế, phóng viên chúng tôi chạy trên nhiều hướng.

Người theo Nông Sơn.

Người xuống nơi dân mới trở về.

Người vào trại tù binh.

Người lên phía tây Duy Xuyên.

Người vừa khỏi sốt đã xuống Hoài Châu.

Tin viết xong lại bắt đầu một cuộc chạy khác: chạy tìm đường đưa bài về Khu.

Giữa những ngày ấy, lời mẹ từ ngoài Bắc cũng lần được đường vào chiến trường.

Mẹ nghe anh em trong này ra kể bánh kẹo, thuốc men, hàng tiêu dùng có khi bị địch bỏ thuốc độc. Mẹ sợ, dặn tôi thứ gì ăn uống cũng phải cẩn thận.

Từ ngoài Bắc, mẹ chẳng biết Nông Sơn đang đánh thế nào, cũng chẳng biết đài minh ngữ Quảng Nam đang hết pin.

Mẹ chỉ biết lo cho con bằng một câu như thế.

Còn tôi lại ngồi trước những con số.

Bình Định gửi về tin sáu tháng ở Hoài Nhơn, ghi du kích diệt “gần 10 trung đội địch”.

Tôi điện xuống hỏi Hòa ngay:

Gần 10 là mấy?

Bảy, tám hay bao nhiêu?

Những con số loại ấy phải xác định cho rõ rồi mới đưa số tròn.

Đến đầu tháng Tám, cộng sổ tháng Bảy, Phân xã đã phát 149 tin, bài, trong đó có 25 bài; 42 phần trăm về quân sự, 25 phần trăm về chính trị, 14 phần trăm về binh vận.

Anh em ảnh làm được 1.280 tấm.

Ba máy ảnh được chữa.

Nhưng sổ của một cơ quan giữa chiến trường còn có những con số khác:

42 công đào ao.

7 công gùi cõng.

Hai người đi sản xuất ở Trà Mi.

Một người tham gia xây dựng trường Tuyên huấn.

Tin vẫn phát.

Ảnh vẫn tráng.

Máy hỏng vẫn chữa.

Ao vẫn đào.

Gạo vẫn cõng.

Và 22 phóng viên của chúng tôi vẫn tỏa trên chín tỉnh, mỗ

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn