Khác

“Kế hoạch nghi binh” của Trung tá Khuất Duy Tiến

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam không chỉ là nơi lưu giữ quá khứ mà còn là nguồn cảm hứng và bài học vô giá cho thế hệ hôm nay. Một trong những hiện vật đặc biệt quan trọng được trưng bày tại đây là “Kế hoạch nghi binh” của Trung tá Khuất Duy Tiến, Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên (sau nay là Trung tướng Khuất Duy Tiến, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1). Đồng chí đã xây dựng “Kế hoạch nghi binh” vào tháng 10 năm 1974 được Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên thông qua và vận dụng vào thực tiễn từ tháng 11 năm 1974 đến tháng 3 năm 1975.

Hà Nội27/09/2026Phường An Cựu (Đoàn phường An Cựu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
“Kế hoạch nghi binh” của Trung tá Khuất Duy Tiến

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam không chỉ là nơi lưu giữ quá khứ mà còn là nguồn cảm hứng và bài học vô giá cho thế hệ hôm nay. Một trong những hiện vật đặc biệt quan trọng được trưng bày tại đây là “Kế hoạch nghi binh” của Trung tá Khuất Duy Tiến, Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên (sau nay là Trung tướng Khuất Duy Tiến, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1). Đồng chí đã xây dựng “Kế hoạch nghi binh” vào tháng 10 năm 1974 được Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên thông qua  và vận dụng vào thực tiễn từ tháng 11 năm 1974 đến tháng 3 năm 1975.

Ngày 11/02/2009, đoàn cán bộ sưu tầm của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam vinh dự được gặp gỡ với Trung tướng Khuất Duy Tiến, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 tại nhà riêng của Ông ở 34 Trần Phú, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Trung tướng Khuất Duy Tiến là một trong những nhà quân sự xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, trực tiếp tham gia xây dựng Kế hoạch tác chiến Chiến dịch Tây Nguyên – trận đánh mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Với tư duy sắc sảo, bản lĩnh kiên cường và kinh nghiệm dày dặn, đồng chí Khuất Duy Tiến cùng Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã góp phần làm nên thắng lợi vang dội, tạo thế trận đột phá, mở đường cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Địa bàn chiến lược

Chiến dịch Tây Nguyên diễn ra trong bối cảnh lịch sử vô cùng đặc biệt. Sau những thất bại liên tiếp, quân đội ngụy ngày càng suy yếu. Trong khi đó, lực lượng cách mạng đã lớn mạnh cả về quân số và trang bị. Cuối năm 1974, so sánh tình hình ở miền Nam thay đổi mau lẹ có lợi cho cách mạng, Bộ Chính trị đã tổ chức các Hội nghị để bàn kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam. Trong thư của Tổng Bí thư Lê Duẩn gửi đồng chí Phạm Hùng về kết luận của Hội nghị Bộ Chính trị đã viết: “Lúc này, chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn”[1].

Bộ Chính trị đề ra kế hoạch 2 năm, nhưng lại nhấn mạnh “cả năm 1975 là thời cơ” và chỉ rõ: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”[2]. Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tranh thủ thời cơ thực hiện “tổng công kích – tổng khởi nghĩa” phải đánh thắng nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa… giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.

Trong thời gian này, Trung tá Khuất Duy Tiến trên cương vị Trưởng phòng tác chiến Mặt trận Tây Nguyên (Mặt trận B3), được Tư lệnh Vũ Lăng giao nhiệm vụ làm Tổ trưởng Trung tâm nghiên cứu chiến thuật xây dựng kế hoạch nghi binh nhằm chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Nguyên. Xác định Buôn Ma Thuột giữ vị trí đặc biệt trọng yếu, được ông suy tính, nghiên cứu kỹ lưỡng, coi đây là điểm đột phá trong chiến dịch quan trọng này. Những ngày chuẩn bị phương án tác chiến đột phá vào Buôn Ma Thuột là những ngày sôi nổi, quyết liệt của cơ quan tác chiến. Hàng loạt kế hoạch được xây dựng để thực hiện phương án này.

Chuẩn bị và xây dựng Kế hoạch nghi binh

Trước khi tham gia vào Chiến dịch Tây Nguyên, đồng chí Khuất Duy Tiến đã có những kinh nghiệm quý báu trong công tác quân sự. Tháng 10/1973, đồng chí Khuất Duy Tiến được ra Bắc dự tổng kết và tập huấn về nghệ thuật chiến dịch, sẵn sàng phục vụ cho nhiệm vụ chiến lược mới. Sau đợt tập huấn, Khuất Duy Tiến nhanh chóng trở lại chiến trường Tây Nguyên.

Về Phòng Tác chiến Mặt trận B3 khoảng nửa tháng thì Trung tá Khuất Duy Tiến được cử ra Hà Nội dự Tổng kết Chiến dịch Tây Nguyên năm 1972 và nhận Kế hoạch chuẩn bị phương án tác chiến trong các năm 1975-1976. Theo kế hoạch ban đầu, Mặt trận B3 được Bộ giao nhiệm vụ mở thông con đường vận tải nối giữa Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ, tức là chỉ “vén” địch ra để xây dựng một con đường vận tải chiến lược. Phòng Tác chiến Mặt trận đã tham mưu, đề xuất xây dựng kế hoạch mang tên “Chiến dịch tháng 2/1975” với các mục tiêu tấn công vào Thuần Mẫn, Đức Lập, Gia Nghĩa… nhằm mở thông con đường vận tải ấy. Nhưng do tình hình thay đổi, sau chiến thắng Phước Long, Trung ương đánh giá Mỹ không có khả năng can thiệp, phương án tác chiến trong năm 1975 hướng tấn công chính sẽ là các thành phố, thị xã. Từ tháng 10/1974, khi vừa hoàn chỉnh xong kế hoạch tác chiến cho “Chiến dịch tháng 2/1975”, Trưởng phòng Khuất Duy Tiến lại cùng anh em trợ lý bắt tay vào xây dựng một kế hoạch khác.

“Trước lúc làm kế hoạch mới, tôi có hỏi đồng chí Vũ Lăng (khi đó đang là Tư lệnh Mặt trận) xem có cần thay đổi tên kế hoạch không, Tư lệnh Vũ Lăng bảo: “Cứ đề là “Kế hoạch tháng 2-1975” rồi thay nội dung khác là được”, anh còn gợi ý: “Các cậu cần tính để ta có thể xây dựng phương án đánh Buôn Ma Thuột trong trường hợp địch không có phòng ngự dự phòng, chỉ “chọi” với Trung đoàn 53 của địch đang chốt tại đó”[3] - Trung tướng Khuất Duy Tiến nhớ lại.

 “Kế hoạch B”

Trung tướng Khuất Duy Tiến kể cho chúng tôi: “Để giữ bí mật hành động công tác chuẩn bị chiến dịch và cơ động lực lượng vào cài thế trận trên các hướng, từ đầu tháng 11/1974 đến cuối tháng 2/1975, kế hoạch nghi binh tuyệt mật mang mật danh “Kế hoạch B” được Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (đầu tháng 2/1975, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên được thành lập do đồng chí Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy) triển khai thống nhất, chặt chẽ, liên tục trên diện rộng với nhiều lực lượng tham gia.”[4]

Một phương án nghi binh được Bộ Tư lệnh đưa ra họp bàn với anh em các bộ phận, sau đó cấp trên giao nhiệm vụ cho Phòng Tác chiến xây dựng kế hoạch này. Tháng 10/1974, sau 2 tuần soạn thảo, kế hoạch nghi binh do Trưởng phòng Khuất Duy Tiến viết, tổng hợp thành 10 trang giấy pơ-luya chính thức được Tư lệnh Vũ Lăng thông qua. Khi ấy, Tư lệnh Vũ Lăng còn cẩn thận dặn người Trưởng phòng Tác chiến: “Cậu nhớ giữ kín nhé, trước mắt là chỉ mình với cậu biết thôi đấy!”.

Bìa sách “Kế hoạch nghi binh”.

Nội dung kế hoạch “Nghi binh 10/1974” được tiến hành trên 4 hướng gồm: hướng Bắc, Đông Bắc thị xã Kon Tum; hướng Tây, Tây Nam thị xã Kon Tum; hướng đường 19 An Khê và hướng tây Plây-cu. Tham gia vào kế hoạch nghi binh ngoài lực lượng tại chỗ được bố trí ở các hướng còn có một bộ phận chuyên làm nhiệm vụ nghi binh gồm 2 máy 15W của Trung đoàn thông tin cùng hai tổ cơ yếu, trong đó một máy làm nhiệm vụ đóng giả một sư đoàn mới vào, một máy đóng giả Sở chỉ huy tiền phương của B3. Kế hoạch nghi binh chỉ được phổ biến đến Thủ trưởng Phòng Tham mưu và các bộ phận cơ quan trực tiếp làm, còn các đơn vị thực binh tuyệt đối không được biết.

Các đơn vị được phổ biến quy định là khi nhận kế hoạch tác chiến mà có chữ “kế hoạch B” thì chỉ huy đơn vị cần lưu ý… không làm theo. Chẳng hạn Sư đoàn 10 nhận nhiệm vụ hành quân cơ động trong “kế hoạch B”, nhưng thực tế cả sư đoàn vẫn đóng quân tại chỗ để nghi binh địch. Việc nghi binh được bắt đầu triển khai từ giữa tháng 11/1974 và trong khoảng thời gian 4 tháng (từ tháng 11/1974 tới đầu tháng 3/1975) địch bị phía ta đưa vào “ma trận” với thật giả lẫn lộn. Có một lần ta di chuyển “thật” mà bị chúng “đánh hơi” được, đó là giữa tháng 2/1975, địch hay tin Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 của ta đã di chuyển xuống phía nam Tây Nguyên, chúng liền điều Trung đoàn 45 từ Kon Tum xuống lùng sục dọc đường 14. Biết Sư đoàn 320 có nguy cơ bị lộ, Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định cho sư đoàn lui quân để giữ bí mật, Trưởng phòng Khuất Duy Tiến đã phải trực tiếp thảo một bức điện rồi tới đưa tận tay Sư đoàn trưởng Kim Tuấn chứ không sử dụng máy 15W.

Tổ chức chỉ huy, điều khiển lực lượng tham gia nghi binh, bảo đảm bí mật, bảo đảm thời gian, nội dung nghi binh. Kế hoạch nghi binh được Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (ngày 5/2/1975, đổi tên thành Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên) thông qua và vận dụng triển khai đúng theo kế hoạch từ giai đoạn chuẩn bị tháng 11/1974 cho đến khi bắt đầu chiến dịch ngày 09/3/1975.

Giải phóng “nóc nhà của Đông Dương”

Bằng nghệ thuật nghi binh tài tình, tuân thủ theo nguyên tắc bí mật tuyệt đối, quân ta đã đánh lừa địch buộc chúng phải viện quân lên phòng ngự cho Bắc Tây Nguyên, thậm chí chúng buộc phải rút bớt một lực lượng từ Buôn Ma Thuột về Kon Tum. Sau này, viên tướng Mỹ Charles Times – cố vấn của Nguyễn Văn Thiệu, phải chua chát thừa nhận: “Bằng biện pháp nghi binh qua làn sóng điện, Việt Cộng đã thành công trong kế hoạch giam chân bộ phận chủ yếu của quân lực Việt Nam Cộng hòa thuộc khu vực 2 ở Plây-ku và Kon Tum.”[5]

Đến ngày 09/3/1975, quân ta đã triển khai lực lượng, cài xong thế chiến lược và chiến dịch đã tiến hành chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng, chia cắt Nam và Bắc Tây Nguyên, hoàn thành việc bao vây và cô lập thị xã Buôn Ma Thuột. Như vậy, việc chủ động tiến công và dùng phép nghi binh lừa địch của quân ta đã thành công. Đòn nghi binh, tạo thế, tạo bất ngờ đã trở thành một nét đặc sắc trong nghệ thuật Chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra đột phá khâu về chiến lược, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và vùng duyên hải miền Trung, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh cách mạng. Chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra quá trình sụp đổ hoàn toàn của ngụy quân, ngụy quyền. Đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ chuyển sang giai đoạn mới, từ tiến công chiến lược ở Tây Nguyên phát triển thành tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.

Ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị họp và khẳng định: “Thời cơ chiến lược đã tới, Trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này”, do đó cần: “nắm vững thời cơ chiến lược mới, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào phương hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không dự kiến kịp và không kịp trở tay, hoàn thành giải phóng miền Nam càng sớm càng tốt”. Trên cơ sở xác định rõ tình hình và nắm chắc thời cơ, Bộ Chính trị quyết định: “Quyết tâm hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa (tháng 5/1975)”[6].

Minh chứng nghệ thuật quân sự đặc sắc

Suốt 34 năm sau ngày đất nước thống nhất, Trung tướng Khuất Duy Tiến luôn trân trọng lưu giữ “Kế hoạch nghi binh” làm kỷ vật thiêng liêng nhớ về cuộc đời trận mạc của Ông và đồng đội ở Phòng Tác chiến đã tham mưu đề xuất xây dựng Kế hoạch nghi binh vận dụng thành công trong Chiến dịch Tây Nguyên. Ngày 11/2/2009, hưởng ứng Cuộc vận động sưu tầm và giới thiệu “Những kỷ vật kháng chiến”, đồng chí Khuất Duy Tiến đã trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam làm hiện vật lưu giữ, bảo quản và phát huy giá trị nghệ thuật quân sự.

“Kế hoạch nghi binh” mang đậm dấu ấn thời gian, hiện đã cũ, ố vàng trên nền giấy pơ-lua. Tờ giấy có kích thước 27cmx20cm, có màu trắng ngà, màu vàng và tím. Một dấu tích đặc biệt là trang bìa và nội dung kế hoạch đã tách rời, ở giữa trang bìa còn lưu giữ dòng chữ “Nghi binh 10-1974”, được viết tay tỉ mỉ.

Trang đầu tiên của “Kế hoạch nghi binh”.

Toàn bộ nội dung kế hoạch gồm 10 trang, viết tay bằng mực tím ở nửa bên phải của trang giấy, thể hiện sự cẩn trọng và tính bảo mật cao. Kỹ thuật chế tác viết tay bằng mực tím và đỏ trên giấy pơ-lua.

Khi nhìn lại cuộc đời chiến đấu của mình, Trung tướng Khuất Duy Tiến không chỉ tự hào với những chiến công đã đạt được mà còn nhận ra rằng, mỗi kế hoạch, mỗi quyết định của Ông đều được xây dựng trên nền tảng tình yêu nước, lòng dũng cảm và sự hy sinh. Ông luôn nhấn mạnh rằng, kỷ vật này không chỉ là một tài liệu mà hơn thế nữa, nó là biểu tượng của tình đồng đội, của tinh thần kỷ luật và sự hy sinh vì lý tưởng cao đẹp.

Từ bản kế hoạch này, quân ta đã giấu đi hướng tiến công chủ yếu, khiến địch bất ngờ, xuất quyền chủ động đối phó, giải phóng Tây Nguyên, mở ra thời cơ chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam. Hiện vật được lưu giữ tại Bảo tàng là minh chứng đặc sắc phản ánh kho tàng phong phú nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đây là một trong những tư liệu quý, góp phần vào công tác nghiên cứu lịch sử quân sự, có giá trị trong vận dụng tác chiến bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trung tướng Khuất Duy Tiến trao tặng kỷ vật cho Bảo tàng cũng phần nào thể hiện trách nhiệm của thế hệ đi trước đối với những người kế nhiệm, một sự khuyến khích để giới trẻ tiếp tục học hỏi, rèn luyện và gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc. Ông thể hiện sự tin tưởng rằng, các thế hệ sau sẽ tiếp nối và phát huy những thành tựu, những bài học từ quá khứ, không chỉ trong việc xây dựng quân đội mà còn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội./.

[1] ĐCSVN: Đại thắng mùa Xuân 1975 Văn kiện Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.12.

[2] “Đại cương lịch sử Việt Nam” tập 3, Lê Mậu Hãn chủ biên, Nxb giáo dục, HN, 2008, tr 261.

[3] “Kế hoạch nghi binh trong ký ức vị tướng trận mạc”, ngày xuất bản 29/04/2020, https://baoquankhu7.vn/ke-hoach-nghi-binh-trong-ky-uc-vi-tuong-tran-mac--1091786930017852s35810gs?AspxAutoDetectCookieSupport=1

[4] “Nghi binh trong Chiến dịch Tây Nguyên”, ngày xuất bản 09/03/2025, https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/nghe-thuat-quan-su-vn/nghi-binh-trong-chien-dich-tay-nguyen-818808

[5] Chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, Nxb Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr.25.

[6] Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975”, tập 8 Toàn thắng, nxb CTQG, HN, 2013, tr 301

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
“Kế hoạch nghi binh” của Trung tá Khuất Duy Tiến | Câu chuyện thời hoa lửa