KỂ VỀ ÔNG TÔI – LIỆT SĨ PHẠM VĂN KHA
KỂ VỀ ÔNG TÔI – LIỆT SĨ PHẠM VĂN KHA

Câu chuyện 3:
KỂ VỀ ÔNG TÔI – LIỆT SĨ PHẠM VĂN KHA
Ông tôi là Phạm Văn Kha, sinh năm 1943, quê tại xã Đông Lĩnh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (cũ), nay là xã Đông Quan, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh ra và lớn lên trong những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh ác liệt do đế quốc Mỹ gây ra.

Ảnh: Liệt sĩ Phạm Văn Kha (ảnh do gia đình cung cấp)
Ông là con út trong gia đình có 6 anh chị em, gồm 3 trai, 3 gái. Cũng như bao thanh niên Việt Nam thời bấy giờ, khi Tổ quốc cần, ông đã gác lại những ước mơ riêng. Năm 1962, theo tiếng gọi thiêng liêng của non sông, ông tình nguyện nhập ngũ, trở thành người lính Quân đội nhân dân Việt Nam.
Những ngày đầu, ông được huấn luyện và đóng quân tại Hà Nam (cũ). Sau thời gian huấn luyện, trong một lần được nghỉ phép về thăm gia đình, ông quen bà Phạm Thị Viễn, người cùng quê, ở thôn trên. Tình yêu của ông bà nảy nở mộc mạc nhưng chân thành giữa thời chiến. Hai bên gia đình đều đồng ý và đã định ngày cưới hỏi.
Sau kỳ nghỉ phép, ông trở lại đơn vị. Theo lời kể của gia đình, ông thuộc đơn vị đặc công. Hơn một năm sau, Sư đoàn của ông nhận lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam, nơi bom đạn ác liệt nhất lúc bấy giờ.
Trước ngày lên đường, chỉ huy đơn vị đã tạo điều kiện cho ông được về nhà đúng 1 ngày để làm đám cưới. Ông trở về trên chuyến xe kết hợp của Trung đoàn tiếp phẩm. Đám cưới của ông bà diễn ra giản dị, vội vàng nhưng ấm áp nghĩa tình, giữa sự ủng hộ của hai bên gia đình.
Niềm vui đoàn tụ chưa kịp trọn vẹn, chỉ sau vài tiếng sum họp, ông lại chia tay gia đình, lên xe trở về đơn vị, tiến thẳng ra tiền tuyến. Cuộc chia ly hôm ấy trở thành lần gặp cuối cùng giữa ông và bà.
Trong những năm sau đó, gia đình tôi vài lần nhận được thư từ tiền tuyến gửi về. Trong thư, ông báo tin vẫn khỏe mạnh, gửi lời thăm bố mẹ, vợ và gia đình. Nhưng rồi, do sự khốc liệt của chiến tranh, ông và gia đình mất liên lạc trong một thời gian dài.
Mãi đến năm 1970, gia đình mới đau đớn nhận được giấy báo tử: ông tôi đã anh dũng hy sinh tại chiến trường miền Nam ngày 23 tháng 9 năm 1968.
Ngày đất nước hòa bình, thống nhất năm 1975, phần mộ của ông vẫn chưa tìm được. Gia đình không có điều kiện để đi tìm, nỗi day dứt ấy kéo dài suốt nhiều năm.
Đến năm 2010, gia đình tôi nhận được thông tin về phần mộ của ông. Chúng tôi quyết định lên đường vào Quảng Nam tìm ông. Ban đầu, gia đình đi khắp các nghĩa trang liệt sĩ để dò tìm theo tên, nhưng vẫn chưa có kết quả. Sau đó, gia đình tìm đến Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng của Con người (thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam), tại số 1 Đông Tác, Hà Nội, nhờ hỗ trợ.
Sau quá trình tìm kiếm kiên trì, đến giữa năm 2010, gia đình đã tìm thấy mộ ông trong một khu rừng. Theo lời kể lại, trong một lần bơi qua sông thì đơn vị bị địch tập kích, ông đã hy sinh và được đồng đội chôn cất ngay tại nơi ngã xuống. Ông còn “kể” rằng bên cạnh ông còn có một đồng đội khác cũng đã hy sinh, nhưng đến nay gia đình người ấy vẫn chưa có điều kiện tìm về.
Khi tìm thấy, hài cốt của ông chỉ còn lại rất ít. Gia đình tin rằng ông đã báo mộng, bởi nếu không tìm kịp, sau mùa mưa lũ thì dấu tích cũng sẽ mất hết.
Ngay trong buổi chiều tìm được mộ, gia đình tôi lập tức đưa ông về quê. Chuyến xe chạy suốt đêm, từ huyện Hòa Vang – Đà Nẵng – Quảng Nam, thẳng ra Thái Bình. Đến sáng hôm sau, gia đình cùng chính quyền và nhân dân thôn Vạn Minh, xã Đông Lĩnh đã trang trọng tổ chức lễ tang và truy điệu liệt sĩ Phạm Văn Kha – sau hơn 40 năm ông nằm lại nơi rừng sâu.
Về phần bà Phạm Thị Viễn, sau ngày ông hy sinh, bà ở cùng mẹ ông khoảng 10 năm, rồi chuyển đến sống cùng gia đình chị gái tại Hải Phòng, lặng lẽ đi qua cuộc đời với ký ức không phai về người chồng liệt sĩ.

Ảnh: Tổ quốc ghi công (ảnh do gia đình cung cấp)
Câu chuyện về ông tôi – liệt sĩ Phạm Văn Kha, một người lính đặc công đã hiến trọn tuổi xuân và cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc – không chỉ là niềm tự hào của gia đình tôi, mà còn là bài học sâu sắc đối với thế hệ trẻ hôm nay.
Sinh ra trong hòa bình, thanh niên chúng tôi không còn phải cầm súng ra chiến trường, nhưng trách nhiệm đối với đất nước vẫn luôn hiện hữu. Đó là trách nhiệm học tập, rèn luyện đạo đức, sống có lý tưởng, biết trân trọng lịch sử, biết ơn các anh hùng liệt sĩ, và tiếp nối truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Đối với tôi, câu chuyện về ông không chỉ là ký ức của một gia đình, mà còn là động lực để tôi sống xứng đáng hơn, để mỗi ngày trôi qua đều có ý nghĩa, xứng đáng với sự hy sinh của những người đã ngã xuống trong thời hoa lửa.
Nguồn: Gia đình đồng chí Phạm Minh Thúy, Chi đoàn THCS Cửa Ông



