KẾT THÚC CHIẾN DỊCH MẬU THÂN TÔI TRỞ THÀNH CÔNG DÂN CỦA SÀI GÒN - GIA ĐỊNH
Đoạn trích là những dòng hồi ức đầy suy tư và xúc động của một cán bộ quân sự về giai đoạn khốc liệt sau chiến dịch Mậu Thân 1968. Qua lời kể chân thực, tác giả tái hiện một hành trình gian khổ từ những cơn bạo bệnh thập tử nhất sinh, sự che chở của tổ quân y và nhân dân vùng Gò Nổi, đến nỗi đau xót xa trước sự hy sinh của người đồng đội trẻ dưới làn bom B52. Giữa ranh giới mong manh của cái chết và sự sống, đoạn văn làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa tình đồng chí, nghĩa đồng bào ấm áp với thá
Giữa tháng 4 năm 1968, lần thứ ba tôi đi chuẩn bị cho trung đoàn vượt sông tại bến Cây Đa vào Trung An sẵn sàng thọc sâu Nam lộ 8 một lần nữa. Trung đoàn như: “con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào…”. Chốt Mỹ tại đây nhằm chặn đường lui chúng tôi đã rút. Tôi không rõ mục đích cuộc “xuống đường” lần này để làm gì? Nghe phong phanh người ta muốn làm “cú vét”. Phải chăng đã “phóng lao phải theo lao”. Nếu thế quả đúng là “ăn mắm khát nước”, chỉ tội cho lũ kiến mà “leo cành đào, phai cành cụt leo vào leo ra”.
Tôi cùng vài trinh sát, trợ lý tác chiến chốt ngay dưới gốc đa. Cây đa to phải bốn người ôm ngay sát bờ sông. Cành lá nó phủ trùm sát mặt nước tỏa ra cách bờ bốn đến năm mét rất kín đáo. Ngồi im dưới gốc, tàu khách chạy phía ngoài chỉ nghe tiếng động cơ và những con sóng lớn tạt vào bờ chứ không thấy tàu. Tất nhiên người trên tàu không phát hiện được chúng tôi.
Nóng lòng chờ đơn vị đến nhưng chỉ có liên lạc đưa thư báo tin đình việc chuyển quân. Phải thế chứ. Ai lại xách cả một trung đoàn làm như trái banh đá lên đá xuống mãi thế?
Lúc nhận được thư cũng là cơn sốt thương hàn ập đến với tôi. Tôi đã lịm đi suốt hai hôm lúc mê lúc tỉnh. Khuya hôm sau có chiếc xuồng nhỏ cập bờ. Người ta chuyển tôi đi, tôi không biết gì. Khi tỉnh lại mới biết xuồng đang ngược sông Sài Gòn đến ngang ấp Phú Hòa Đông rẽ vào một con rạch nhỏ phủ trùm kín mít bởi hàng trâm bầu mọc hai bên che khuất không nhìn thấy màn trời. Tại đây có một tổ cấp cứu quân y duy nhất của chiến dịch còn lại chưa lui về sau. Tổ có một bác sĩ, một nữ y tá và một chiến sĩ phục vụ. Tôi được cấp cứu kịp thời bằng các loại thuốc đặc trị cho căn bệnh quái ác này. Nhờ sự điều trị tận tình của bác sĩ Lục và y tá Kim Anh, tôi qua cơn hiểm nghèo. Tuy vậy phải một tuần sau tôi mới ngồi dậy và ăn tí cháo. Mấy ngày đầu Kim Anh đút cho tôi từng thìa sữa. Thấy tôi đã tỉnh táo bắt đầu ăn uống được, Kim Anh cho biết nếu đưa tôi đến chậm vài ba giờ chắc khó cứu. Tôi cười nói lạt;
- Qua sông nước lũ bão tố chẳng chết, lại chết ở vũng trâu nằm này hay sao?
Kim Anh lườm tôi:
- Anh hùng vẫn có lúc mạt lộ đấy đồng chí ạ!
Cô vốn nữ sinh trường Gia Long Sài Gòn, con nhà khá giả. Ra khu cô được chọn đi đào tạo y tá, tốt nghiệp được chuyển về phục vụ ở tổ quân y này. Một cô gái xinh đẹp cả khuôn mặt và thể hình, có làn da trắng nuốt... lại sớm hòa nhập cuộc sống ở bưng biền. Suốt ngày ngoài việc tiêm thuốc nấu nước xông cho tôi theo hướng dẫn của bác sĩ, cô lặn hụp hai bên bờ rạch bắt cua tôm, hái các loại rau mọc hoang để cải thiện...
Hai mươi ngày tôi mới bình phục. Tổ quân y vì tôi phải nán trụ lâu ngày. Theo yêu cầu của tôi các anh chị cho xuồng nhân đêm tối theo sông chuyển tôi lên Bến Đình. Tại đây tôi và đồng chí công vụ băng về ấp Gò Nổi gặp liên lạc của trung đoàn. Các anh cho phép tôi trụ lại đây dưỡng bệnh khi nào bình phục hoàn toàn mới trở về đơn vị. Lúc này trung đoàn chuyển sâu vào bên trong hậu cứ gần bến Nha Thức để dưỡng quân chuẩn bị cho đợt hoạt động mới. Ở Gò Nổi tôi không có một xu dính túi, một hạt gạo hạt muối, nhưng tôi được đồng chí đồng bào chăm sóc tận tình từ cái ăn chỗ trú rất chu đáo suốt hơn hai mươi ngày. Sau đó liên lạc đến đưa tôi về hậu cứ trung đoàn.
Tại đây, tôi đau đớn khi biết tin Văn liên lạc công vụ cũ của tôi khi còn ở tiểu đoàn 7 hy sinh. Lúc tôi rời tiểu đoàn về ban tham mưu trung đoàn nhận công tác, Văn ở lại và được bổ nhiệm trung đội phó cối 82. Cậu ấy hy sinh do B52 đánh trúng khi cùng tiểu đoàn vượt bến Nha Thức về căn cứ phía sau.
Trên đường đuổi theo trung đoàn đến căn cứ mới ở suối Bà Hảo (nằm trong căn cứ Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh). Tôi bị hai lần bom của B52. Cả hai lần tôi thoát nạn. Cái hầm trú ẩn của tôi bị sức chấn động của bom dồn ép làm biến dạng. Tôi lại khạt ra từng bụm máu.
Cuối hè năm 1968, trung đoàn chuyển xuống hoạt động đóng quân khu vực suối Nhánh không xa mấy vùng dân cư xã An Tịnh huyện Trảng Bàng (Tây Ninh). Qua đồng chí Kính Hiền tham mưu phó kiêm trưởng ban tác chiến trung đoàn, tôi mới biết Bộ tư lệnh Miền điều động tôi về nhận nhiệm vụ ở một sư đoàn bộ binh sắp được thành lập hoạt động trên địa bàn thuộc quân khu Sài Gòn - Gia Định. Nghe đâu tôi sẽ đảm nhiệm Trưởng ban tác chiến sư đoàn.
Tin đột ngột, tôi cố nén nỗi mừng. Không phải tôi mừng vì nhiệm vụ mới, mà mừng là được rời xa đơn vị này. Công bằng mà nói hầu như tuyệt đối anh em trong trung đoàn đều tin tưởng, yêu mến kính trọng tôi qua mối quan hệ thân tình, qua hành động công tác và chiến đấu của tôi. Khi rời tiểu đoàn 7 về cơ quan trung đoàn chứ không phải đi xa, thế mà anh em cứ lưu luyến bịn rịn. Văn và Thóc nằng nặc đòi theo. Văn có thể được nhưng Thóc còn có trách nhiệm với đơn vị, cậu ấy đã là trung đội phó thông tin. Nếu cho Văn theo có khi cậu ấy không gặp nạn.
Nhưng tôi không thể ích kỷ vì cái lợi riêng mình bắt Văn phải gánh mãi cái chức danh chiến sĩ công vụ. Phải tạo điều kiện phát triển khả năng của Văn (trước khi bộ đội đi đánh Mỹ, cậu ấy đã tốt nghiệp cấp ba) trước khi đi tôi đã bàn với các anh trong ban chỉ huy. Thời gian ngắn sáu, Văn được bổ nhiệm làm trung đội phó.
Văn mất đi trẻ quá, mới bước vào tuổi hăm mốt hăm hai để lại người vợ chưa kịp làm lễ cưới, được cha mẹ hai bên cho phép cô cậu gần nhau chỉ được hai hôm trước khi Văn lên đường đánh Mỹ. Bây giờ cô ấy trở thành người vợ góa. Còn nỗi đau nào hơn. Dĩ nhiên hàng vạn anh em khác cũng trường hợp như Văn, cũng nỗi đau như Văn, như cô gái trẻ người vợ góa chưa cưới của Văn!
Mong rằng những ai đó đừng quên dù lịch sử có sang trang, dù có “khép” lại quá khứ thì cũng đừng quên câu chuyện này hoặc tương tự thế này. Quá khứ tuy có khép hay gác lại, cũng không nên quên quá khứ.
Một anh bạn thân nói với tôi: “Hay ho gì kể chuyện của những kẻ chuyên đi bắn giết lẫn nhau”.
Thật buồn! Lòng tôi chùng hẳn xuống. Tâm hồn tôi như bị những lời trên xé toạc ra làm rỉ máu. Anh ấy không phải lỡ mồm mà là quan niệm từ lâu trong tiềm thức của anh. Anh đánh đồng những kẻ chuyên đi giết người vì lòng tham, vì bất nghĩa, vì muốn dìm cả một dân tộc của anh xuống bùn đen, với những người buộc phải cầm vũ khí chống lại vì sự tồn vong của dân tộc, sống còn của nhân dân. Họ buộc lòng phải giết lại những kẻ chuyên đi giết người. Họ nhận thức một chân lý giản đơn: “không giết nó, nó sẽ giết anh”. Sống trên đời là cuộc đấu tranh không khoang nhượng. Anh đã không phân rõ phải trái, anh đã lẫn lộn trắng đen. Anh chê trách cả hai. Anh muốn thoát tục, đứng trên hay đứng ngoài mọi diễn biến cuộc đời và phán xét nó. Nhưng với quan niệm này làm sao anh phán xét được công bằng. Ôi! Hàng triệu vong linh những người đã khuất vì sự nghiệp cao cả của dân tộc của Đất nước nghĩ gì với những người đang sống đồng quan niệm như anh!
|


