Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

KẾT THÚC CHIẾN DỊCH MẬU THÂN TÔI TRỞ THÀNH CÔNG DÂN CỦA SÀI GÒN - GIA ĐỊNH

Đoạn trích là những dòng hồi ức đầy suy tư và xúc động của một cán bộ quân sự về giai đoạn khốc liệt sau chiến dịch Mậu Thân 1968. Qua lời kể chân thực, tác giả tái hiện một hành trình gian khổ từ những cơn bạo bệnh thập tử nhất sinh, sự che chở của tổ quân y và nhân dân vùng Gò Nổi, đến nỗi đau xót xa trước sự hy sinh của người đồng đội trẻ dưới làn bom B52. Giữa ranh giới mong manh của cái chết và sự sống, đoạn văn làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa tình đồng chí, nghĩa đồng bào ấm áp với thá

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giữa tháng 4 năm 1968, lần thứ ba tôi đi chuẩn bị cho trung đoàn vượt sông tại bến Cây Đa vào Trung An sẵn sàng thọc sâu Nam lộ 8 một lần nữa. Trung đoàn như: “con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào…”. Chốt Mỹ tại đây nhằm chặn đường lui chúng tôi đã rút. Tôi không rõ mục đích cuộc “xuống đường” lần này để làm gì? Nghe phong phanh người ta muốn làm “cú vét”. Phải chăng đã “phóng lao phải theo lao”. Nếu thế quả đúng là “ăn mắm khát nước”, chỉ tội cho lũ kiến mà “leo cành đào, phai cành cụt leo vào leo ra”.

Tôi cùng vài trinh sát, trợ lý tác chiến chốt ngay dưới gốc đa. Cây đa to phải bốn người ôm ngay sát bờ sông. Cành lá nó phủ trùm sát mặt nước tỏa ra cách bờ bốn đến năm mét rất kín đáo. Ngồi im dưới gốc, tàu khách chạy phía ngoài chỉ nghe tiếng động cơ và những con sóng lớn tạt vào bờ chứ không thấy tàu. Tất nhiên người trên tàu không phát hiện được chúng tôi.

Nóng lòng chờ đơn vị đến nhưng chỉ có liên lạc đưa thư báo tin đình việc chuyển quân. Phải thế chứ. Ai lại xách cả một trung đoàn làm như trái banh đá lên đá xuống mãi thế?

Lúc nhận được thư cũng là cơn sốt thương hàn ập đến với tôi. Tôi đã lịm đi suốt hai hôm lúc mê lúc tỉnh. Khuya hôm sau có chiếc xuồng nhỏ cập bờ. Người ta chuyển tôi đi, tôi không biết gì. Khi tỉnh lại mới biết xuồng đang ngược sông Sài Gòn đến ngang ấp Phú Hòa Đông rẽ vào một con rạch nhỏ phủ trùm kín mít bởi hàng trâm bầu mọc hai bên che khuất không nhìn thấy màn trời. Tại đây có một tổ cấp cứu quân y duy nhất của chiến dịch còn lại chưa lui về sau. Tổ có một bác sĩ, một nữ y tá và một chiến sĩ phục vụ. Tôi được cấp cứu kịp thời bằng các loại thuốc đặc trị cho căn bệnh quái ác này. Nhờ sự điều trị tận tình của bác sĩ Lục và y tá Kim Anh, tôi qua cơn hiểm nghèo. Tuy vậy phải một tuần sau tôi mới ngồi dậy và ăn tí cháo. Mấy ngày đầu Kim Anh đút cho tôi từng thìa sữa. Thấy tôi đã tỉnh táo bắt đầu ăn uống được, Kim Anh cho biết nếu đưa tôi đến chậm vài ba giờ chắc khó cứu. Tôi cười nói lạt;

- Qua sông nước lũ bão tố chẳng chết, lại chết ở vũng trâu nằm này hay sao?

Kim Anh lườm tôi:

- Anh hùng vẫn có lúc mạt lộ đấy đồng chí ạ!

Cô vốn nữ sinh trường Gia Long Sài Gòn, con nhà khá giả. Ra khu cô được chọn đi đào tạo y tá, tốt nghiệp được chuyển về phục vụ ở tổ quân y này. Một cô gái xinh đẹp cả khuôn mặt và thể hình, có làn da trắng nuốt... lại sớm hòa nhập cuộc sống ở bưng biền. Suốt ngày ngoài việc tiêm thuốc nấu nước xông cho tôi theo hướng dẫn của bác sĩ, cô lặn hụp hai bên bờ rạch bắt cua tôm, hái các loại rau mọc hoang để cải thiện...

Hai mươi ngày tôi mới bình phục. Tổ quân y vì tôi phải nán trụ lâu ngày. Theo yêu cầu của tôi các anh chị cho xuồng nhân đêm tối theo sông chuyển tôi lên Bến Đình. Tại đây tôi và đồng chí công vụ băng về ấp Gò Nổi gặp liên lạc của trung đoàn. Các anh cho phép tôi trụ lại đây dưỡng bệnh khi nào bình phục hoàn toàn mới trở về đơn vị. Lúc này trung đoàn chuyển sâu vào bên trong hậu cứ gần bến Nha Thức để dưỡng quân chuẩn bị cho đợt hoạt động mới. Ở Gò Nổi tôi không có một xu dính túi, một hạt gạo hạt muối, nhưng tôi được đồng chí đồng bào chăm sóc tận tình từ cái ăn chỗ trú rất chu đáo suốt hơn hai mươi ngày. Sau đó liên lạc đến đưa tôi về hậu cứ trung đoàn.

Tại đây, tôi đau đớn khi biết tin Văn liên lạc công vụ cũ của tôi khi còn ở tiểu đoàn 7 hy sinh. Lúc tôi rời tiểu đoàn về ban tham mưu trung đoàn nhận công tác, Văn ở lại và được bổ nhiệm trung đội phó cối 82. Cậu ấy hy sinh do B52 đánh trúng khi cùng tiểu đoàn vượt bến Nha Thức về căn cứ phía sau.

Trên đường đuổi theo trung đoàn đến căn cứ mới ở suối Bà Hảo (nằm trong căn cứ Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh). Tôi bị hai lần bom của B52. Cả hai lần tôi thoát nạn. Cái hầm trú ẩn của tôi bị sức chấn động của bom dồn ép làm biến dạng. Tôi lại khạt ra từng bụm máu.

Cuối hè năm 1968, trung đoàn chuyển xuống hoạt động đóng quân khu vực suối Nhánh không xa mấy vùng dân cư xã An Tịnh huyện Trảng Bàng (Tây Ninh). Qua đồng chí Kính Hiền tham mưu phó kiêm trưởng ban tác chiến trung đoàn, tôi mới biết Bộ tư lệnh Miền điều động tôi về nhận nhiệm vụ ở một sư đoàn bộ binh sắp được thành lập hoạt động trên địa bàn thuộc quân khu Sài Gòn - Gia Định. Nghe đâu tôi sẽ đảm nhiệm Trưởng ban tác chiến sư đoàn.

Tin đột ngột, tôi cố nén nỗi mừng. Không phải tôi mừng vì nhiệm vụ mới, mà mừng là được rời xa đơn vị này. Công bằng mà nói hầu như tuyệt đối anh em trong trung đoàn đều tin tưởng, yêu mến kính trọng tôi qua mối quan hệ thân tình, qua hành động công tác và chiến đấu của tôi. Khi rời tiểu đoàn 7 về cơ quan trung đoàn chứ không phải đi xa, thế mà anh em cứ lưu luyến bịn rịn. Văn và Thóc nằng nặc đòi theo. Văn có thể được nhưng Thóc còn có trách nhiệm với đơn vị, cậu ấy đã là trung đội phó thông tin. Nếu cho Văn theo có khi cậu ấy không gặp nạn.

Nhưng tôi không thể ích kỷ vì cái lợi riêng mình bắt Văn phải gánh mãi cái chức danh chiến sĩ công vụ. Phải tạo điều kiện phát triển khả năng của Văn (trước khi bộ đội đi đánh Mỹ, cậu ấy đã tốt nghiệp cấp ba) trước khi đi tôi đã bàn với các anh trong ban chỉ huy. Thời gian ngắn sáu, Văn được bổ nhiệm làm trung đội phó.

Văn mất đi trẻ quá, mới bước vào tuổi hăm mốt hăm hai để lại người vợ chưa kịp làm lễ cưới, được cha mẹ hai bên cho phép cô cậu gần nhau chỉ được hai hôm trước khi Văn lên đường đánh Mỹ. Bây giờ cô ấy trở thành người vợ góa. Còn nỗi đau nào hơn. Dĩ nhiên hàng vạn anh em khác cũng trường hợp như Văn, cũng nỗi đau như Văn, như cô gái trẻ người vợ góa chưa cưới của Văn!

Mong rằng những ai đó đừng quên dù lịch sử có sang trang, dù có “khép” lại quá khứ thì cũng đừng quên câu chuyện này hoặc tương tự thế này. Quá khứ tuy có khép hay gác lại, cũng không nên quên quá khứ.

Một anh bạn thân nói với tôi: “Hay ho gì kể chuyện của những kẻ chuyên đi bắn giết lẫn nhau”.

Thật buồn! Lòng tôi chùng hẳn xuống. Tâm hồn tôi như bị những lời trên xé toạc ra làm rỉ máu. Anh ấy không phải lỡ mồm mà là quan niệm từ lâu trong tiềm thức của anh. Anh đánh đồng những kẻ chuyên đi giết người vì lòng tham, vì bất nghĩa, vì muốn dìm cả một dân tộc của anh xuống bùn đen, với những người buộc phải cầm vũ khí chống lại vì sự tồn vong của dân tộc, sống còn của nhân dân. Họ buộc lòng phải giết lại những kẻ chuyên đi giết người. Họ nhận thức một chân lý giản đơn: “không giết nó, nó sẽ giết anh”. Sống trên đời là cuộc đấu tranh không khoang nhượng. Anh đã không phân rõ phải trái, anh đã lẫn lộn trắng đen. Anh chê trách cả hai. Anh muốn thoát tục, đứng trên hay đứng ngoài mọi diễn biến cuộc đời và phán xét nó. Nhưng với quan niệm này làm sao anh phán xét được công bằng. Ôi! Hàng triệu vong linh những người đã khuất vì sự nghiệp cao cả của dân tộc của Đất nước nghĩ gì với những người đang sống đồng quan niệm như anh!

Chỉ còn vài giờ nữa, khi màn đêm đến tôi sẽ lên đường.

Tôi chẳng đến chào từ biệt một ai trong số các vị bề trên. Tôi biết họ chẳng màng cho tôi gặp mặt. Từ ngày tôi đột ngột mắc bệnh được chữa khỏi trở về, họ chẳng một câu thăm hỏi dù chỗ ở họ cách tôi không quá 50 mét. Tôi sắp xa đơn vị, nơi hai năm cộng tác chết sống bên họ, nay chẳng một lời chia tay.

Đêm ấy trăng rất sáng, tôi theo anh liên lạc dẫn đường băng qua những cánh đồng khô cảm thấy lòng thanh thản nhẹ nhàng. Thời tiết dạo này vào lúc chuyển mùa hơi chậm, mới chỉ vài ba cơn mưa. Ban đêm không khí dìu dịu, gió lộng, đồng chưa có nước, cảnh vật yên tĩnh lạ thường khác hẳn trong đợt 1 chiến dịch bốn năm tháng trước đây, lúc trung đoàn chuyển về đóng quân ở Đồng Lớn vùng dân cư thuộc xã Trung Lập Thượng (Củ Chi). Lúc ấy tôi đã qua lại cánh đồng này đôi lần. Cuộc sống ở đây nhộn nhịp thường. Mặc cho đèn dù của Mỹ ở các căn cứ chung quanh chiếu sáng suốt đêm, mặc cho pháo bầy ở Đồng Dù rải đạn ầm ầm ngoài vùng trắng và trực thăng quần đảo trên không... xóm làng vẫn sáng ánh đèn, vang tiếng gọi nhau ơi ới, giọng hát trong trẻo các cháu thiếu nhi vút cao, tiếng xe bò lục cục khắp đồng chở quà bánh tiếp tế cho bộ đội, chở thương binh về phía sau. Từng đoàn người qua lại nườm nượp trên đồng nổi lên những tràng cười, những lời chọc nhộn của các chàng trai cô gái...

Còn bây giờ cảnh vật yên lặng. Thôn xóm vẫn còn đó nhưng im ắng, mới đầu hôm mà như chìm vào giấc ngủ say.

Người ta đưa tôi đến một ấp có tên Sa Nhỏ khoảng mươi nóc nhà. Nơi đây tôi gặp anh Năm Tiều phó Ban Tác chiến Phân khu 1 bắc Sài Gòn - Gia Định. Quê anh tại vùng này. Anh tập kết ra Bắc và trở về năm 1962-1963. Anh cho biết ý định của Bộ Tổng Tư lệnh (Hà Nội) sẽ thành lập một sư đoàn chủ lực chuyên hoạt động địa bàn quân khu Sài Gòn - Gia Định (I Tư Hoặc T Bốn) sau khi chiến dịch Mậu Thân kết thúc. Anh giúp tôi khái quát nắm qua về tổ chức địa bàn trọng điểm Sài Gòn - Gia Định.

Do tính chất đặc biệt quan trọng của chiến trường này trong Tổng công kích - tổng khởi nghĩa, ngày 25 tháng 10 năm 1967 Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu Sài Gòn - Gia Định, sát nhập một số huyện các tỉnh lân cận hình thành 5 phân khu:

- Phân khu 1 gồm các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp (thuộc Gia Định) huyện Bến Cát, Dầu Tiếng (thuộc Bình Dương) và huyện Trảng Bàng (tỉnh Tây Ninh).

- Phân khu 2: Tân Bình, bắc Bình Chánh (Gia Định) các quận nội thành 3, 5, 6 các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Thủ (Long An).

- Phân khu 3: các quận nội thành 2, 4, 7, 8, ngoại thành có Nhà Bè, nam Bình Chánh, các huyện Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc (Long An).

- Phân khu 4: Thủ Đức, Long Thành (Biên Hòa), Nhơn Trạch, Thạnh Mỹ Tây (Gia Định)

- Phân khu 5: Phú Nhuận (Gia Định), Bình Hòa, Tân Uyên, Phú Giáo, Lái Thiêu, Dĩ An (Bình Dương).

Phân khu 6: Các quận nội thành Sài Gòn.

Các đơn vị chuyển thuộc cho sư đoàn mới hiện có trung đoàn Bộ binh 16, trung đoàn 268, trung đoàn Quyết thắng, tiểu đoàn 4 Gia Định đặc công... Các cơ quan sư đoàn bộ sẽ tách từ các cơ quan thuộc Bộ Chỉ huy Phân khu 1 được bổ sung một số cán bộ của trung đoàn 88 hiện nay, trong đó có tôi sẽ đảm nhiệm trưởng ban tác chiến sư đoàn, ông Nguyễn Văn Sĩ nguyên Trung đoàn trưởng trung đoàn 88 về giữ chức tham mưu phó, ông Nguyễn Văn Lanh nguyên chính ủy Trung đoàn 88 giữ chức phó chủ nhiệm chính trị. Một số cán bộ khác của trung đoàn 88 bổ sung cho 3 phòng tham mưu, chính trị, hậu cần sư đoàn. Trung đoàn 88 giữ nguyên biên chế chuyển đi hoạt động ở một số địa bàn khác. Cán bộ đôn từ dưới lên thay cho số được điều động.

Ngừng nói anh lấy thuốc ra hút, châm cho tôi một điếu Cap-tan đầu lọc anh tiếp:

- Mình biết danh ông khi còn ở 88 đánh trận Phước Quả - Phước Bình và “chơi nhau sòng phẳng” với bọn “Anh cả đỏ” Mỹ. Bây giờ mới biết mặt. Mình nghe ông ở trung đoàn 88 bị “đì” lắm phải không?

- Anh không để tôi nói rõ sự tình. Không hiểu sao hình như anh biết nhiều chuyện của tôi khi còn phục vụ ở trung đoàn. Anh nói tiếp:

- Đừng ngại - Mười Nỹ - Đây không phải như ở đấy đâu, toàn anh em tập kết về cả. Ông sẽ hòa mình với nhau như một nhà.

Đồng chí phó Tư lệnh kiêm tham mưu trưởng từ ngôi nhà bên cạnh sang. Anh niềm nở vui vẻ bắt tay tôi. Qua anh em khác giới thiệu, tôi biết một thời đánh Tây anh vang tiếng là “cọp rừng Sát”. Tên thật của anh nghe na ná nhân vật trong tiểu thuyết võ hiệp: Trần Sơn Tiêu. Anh em thường gọi Năm Lê hoặc Trần Lê. Anh sinh trưởng tại Bà Rịa. Tuổi tác anh lớn hơn tôi nửa con giáp. Đánh Tây anh đã là tiểu đoàn trưởng. Tập kết ra Bắc anh làm trung đoàn trưởng một trung đoàn pháo binh của Bộ. Anh về Nam trước tôi ba, bốn năm.

Anh thông báo lại cho biết quyết định mới của Bộ đình chỉ thành lập sư đoàn T4. Tổ chức các phân khu vẫn giữ nguyên biên chế hiện nay. Các đơn vị dự kiến điều về thành sư đoàn chuyển thuộc lại dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư phân khu 1. Cán bộ các nơi đã và đang điều về cho cơ quan sư đoàn bộ sẽ vào biên chế các cơ quan phân khu. Trưởng ban tác chiến phân khu hiện nay do đồng chí Ba Hải tham mưu phó phân khu kiêm nhiệm. Nếu thành lập sư đoàn tôi đảm nhiệm trưởng ban. Nhưng về phân khu tính chất hoạt động phức tạp hơn nhiều so với sư đoàn. Phân khu vừa chỉ huy chỉ đạo 3 trung đoàn chủ lực trong tác chiến và xây dựng, vừa chỉ đạo hoạt động, phát triển phong trào du kích chiến tranh, xây dựng và hoạt động bộ đội địa phương các huyện, lực lượng biệt động và đặc công trong vùng địch kiểm soát... Do đó tôi cần có thời gian theo dõi và nắm bắt để dần quen với tình hình nhiệm vụ mới. Tôi tạm giữ chức phó ban tác chiến thường trực. Khi đã quen thuộc địa bàn, tình hình ta địch, nắm vững chức năng nhiệm vụ tôi sẽ thay đồng chí Ba Hải làm trưởng ban. Phó ban hiện nay có anh Sáu Thân chuyên lo công tác phía sau, anh Năm Tiều làm phái viên đôn đốc kiểm tra vùng trọng điểm là chiến trường Củ Chi.

Mới nghe tôi đã thấy gai gai nơi cột sống. Ở bộ đội chủ lực chỉ có việc nghiên cứu điều tra địch, chuẩn bị chiến trường xây dựng phương án tác chiến, chủ động thời gian nắm chắc phần thắng thì đánh. Đánh xong lui về cứ rút kinh nghiệm, chỉnh huấn chỉnh quân, tiếp nhận bổ sung quân số trang bị...

Ở địa phương hàng đống việc tự xoay xở lo liệu. Vừa mang tính chỉ huy chỉ đạo, vừa trực tiếp lãnh đạo bao gồm 3 thứ quân, tuy bó hẹp trên địa bàn không rộng nhưng xung yếu bậc nhất. Vừa chỉ huy hoạt động tác chiến tiêu diệt địch bảo tồn ta, vừa duy trì phát triển phong trào du kích chiến tranh, đấu tranh chính trị của quần chúng ở nông thôn, đô thị và trên cả 3 vùng: vùng giải phóng, vùng tranh chấp và vùng sau lưng địch. Tác chiến tiêu diệt sinh lực địch kết hợp chặt chẽ xây dựng phong trào quần chúng, phong trào du kích chiến tranh. Hai mặt này hỗ trợ nhau, lấy xây dựng phát triển phong trào làm trọng tâm.

Bài học vở lòng đầu tiên về công tác quân sự địa phương khi tôi vừa chân ướt chân ráo “nhập môn” do anh Năm Lê và Ba Hải truyền thụ. Đề cập vấn đề trên vừa học vừa hành hàng năm chưa hẳn đã nắm vững.

Do tính chất quan trọng và phức tạp như thế, nên các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy phải là người nắm vững đường lối quân sự nói chung, chiến lược chiến tranh nhân dân của Đảng; có nhiều kinh nghiệm chiến trường, bám dân bám trụ địa bàn... Đồng chí Tư lệnh phân khu là Trần Đình Xu. Ông có tên thường gọi Ba Đình. Đồng chí Chính ủy tôi không rõ tên thật, tên thường gọi là Tư Trường ủy viên Trung ương Đảng.

Tôi còn nhớ kỷ niệm khó quên chuyện hai ông đối với tôi. Tôi nhận nhiệm vụ phó ban tác chiến được năm hôm. Khi cơ quan vượt sông Sài Gòn chuyển về căn cứ Cá Rô sâu trong rừng, anh Ba Hải tham mưu phó kiêm trưởng ban đưa tôi đến gặp thủ trưởng. Đến nơi tôi mới rõ người tôi được gặp là tư lệnh Ba Đình.

Trong chiếc lán dựng tạm lợp bằng những chà cây tươi, có chiếc bàn vuông vắn bằng những đoạn cây rừng ghép lại. Trên bàn một “bữa tiệc” bày sẵn. Đồng chí Tư lệnh vóc người tầm thước, tướng nho nhã da trắng tuổi trạc năm mươi đã ngồi đây. Đối diện ông là anh Năm Lê. Anh Ba Hải giới thiệu tôi với Tư lệnh. Ông gật đầu mỉm cười bắt tay tôi và ra hiệu mọi người “vào cuộc”. Quan khách buổi tiệc chỉ có 4 người. Tôi được xem như một khách mời lại có phần ngơ ngác không hiểu sao được vinh dự này. Gọi là tiệc thật ra là bữa cơm thân mật có mấy món thịt cá khoai chiên đóng hộp. Tư lệnh không tuyên bố, nhưng chắc chiêu đãi thủ trưởng tham mưu trong đó tôi kẻ mới hội nhập được ăn theo. Anh Ba Hải vừa ăn thúc cùi chỏ vào tôi cười tủm tỉm như có ý nói: “Tư lệnh chấm cậu rồi đấy”.

Anh Ba Hải gốc Quảng Ngãi. Vào Nam thời nam tiến đánh Tây. Lấy vợ Nam Bộ, nên phong thái cách sống của anh đã “Nam Kỳ hóa”. Tính tình cởi mở phóng khoáng vui vẻ của anh rất dễ hòa đồng và thiện cảm với mọi người. Anh lớn hơn tôi đến sáu bảy tuổi. Tôi xem anh như người anh thân thích, hơn nữa một người thầy dạy cho tôi bài vở lòng của “nghề” tác chiến quân sự địa phương. Tham mưu trưởng thỉnh thoảng nhắc anh truyền thụ “mọi ngón nghề” để tôi nhanh chóng nắm bắt công việc.

Một hôm có tin chiến thắng bộ đội ta gửi về. Anh bảo tôi thảo điện báo cáo về Bộ tham mưu Miền. Nửa giờ ngồi hí hoáy viết, tôi hoàn thành bức điện đưa anh xem. Anh đọc nó rồi cười rộ lên. Dắt tôi đến ngồi trên khúc cây lớn, anh giảng giải đại ý: “Nếu đưa bức điện này đi đăng báo thì đây là bài tường thuật hay. Thảo điện không phải thế”. Anh chỉ cho tôi nội dung một bức điện báo cáo tình hình chiến đấu phải viết ra sao. Cách đặt câu dùng chữ sử dụng từ ngữ quân sự... Anh đùa: “Nếu đưa tôi sang tuyên huấn được bồi dưỡng, tương lai sẽ trở thành nhà văn nhà báo chẳng kém ai”. Tôi thẹn chín mặt hiềm không thể chui vào đâu. Từ đó tôi miệt mài nặn chữ ghép câu như học trò làm bài thi tập. Viết đi viết lại nhiều lần đến bức điện thứ năm thì trơn tru thông suốt không phải chữa.

Một hôm anh hướng dẫn tôi tổng hợp tình hình trong tuần về địch và ta có đánh giá nhận xét. Bản dự thảo báo cáo của tôi được nhanh chóng thông qua không phải chỉnh lí gì nhiều. Anh Ba Hải bảo tôi đến báo cáo miệng theo tinh thần này với đồng chí Tư Trường, Chính ủy phân khu kiêm Bí thư Phân khu ủy. Chỗ tôi đến anh Tư khoảng mười phút xuyên rừng. Anh ở trong chiếc lán dựng tạm giống một gian bầu nhỏ phủ lá cây tươi vừa ngụy trang vừa tránh nắng. Bốn bề trống trơn. Trong lán không có vật gì ngoài chiếc võng anh đang ngồi chăm chú đọc tài liệu. Nghe động anh ngẩng lên thấy tôi đứng dậy, một tay bắt tay tôi, tay kia ôm choàng qua người tôi với giọng cười vui vẻ: “Nỹ đây à! Mình nghe nói về cậu. Nào ngồi xuống đây”. Anh kéo tôi cùng ngồi trên chiếc võng với anh. Tôi lúng túng ngượng ngùng xin phép được đứng bên anh báo cáo. Anh ghì chặt tôi xuống ngồi sát bên anh. Anh nói: “đừng câu nệ, đây ở tạm không bàn ghế gì. Cậu cứ ngồi đây với mình”.

Tôi thật không ngờ, thái độ ân cần vồn vã của anh, một cấp cao lại đối với tôi như thế. Theo lời anh Ba Hải chắc chắn anh Tư Trường có chân trong Trung ương Cục Miền Nam và Quân ủy Miền. Còn tôi chỉ một cán bộ quân sự tầm tầm. Anh xem tôi kẻ cộng tác dưới quyền anh đầu tiên mới gặp như người thân tình bạn đồng trang lứa với anh.

Tôi báo cáo tình hình không lệ thuộc vào trang giấy đặc kín chữ trong tay. Anh chăm chú nghe không một lần ngắt lời. Sau đó anh hỏi để tôi báo rõ thêm đôi ba chi tiết. Đây cũng là thủ thuật anh Ba Hải truyền lại cho tôi. Với cấp trên càng cao càng báo cáo ngắn gọn, đi vào cốt lõi nhưng súc tích đầy đủ không sa đà cành lá rườm rà. Trên cần nắm rõ điều gì mới diễn giải cụ thể thêm.

Anh hài lòng được nghe tổng hợp tình hình chung giúp anh lượng thông tin cần thiết cho cuộc họp Phân khu ủy sắp đến. Anh với tay lấy chiếc bi đông rót ra một chén trà đặc: “Nào anh em mình cùng uống nhé. Chỉ có thế này thôi Nỹ ạ! Thắng Mỹ rồi ta uống “la de” thoải mái. Anh nói giọng Bắc nhưng đã pha trộn tiếng Nam. Nụ cười của anh hiền hậu dễ mến. Anh trạc tuổi anh Ba Đình. Nước da trắng, người có phần phốp pháp. Sau này tôi biết tên thật anh: Phạm Đức Sơn.

Tiếc thay, với anh và Tư lệnh Ba Đình, mỗi anh tôi chỉ gặp được một lần. Thời gian ngắn sau đó cả hai anh đã hy sinh cùng một ngày vì mìn Mỹ sát hại trên đường đi trong chuyến công tác về dự hội nghị ở R (1969)(1).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn