KHAI THÔNG ĐƯỜNG HÀNH LANG CHIẾN LƯỢC NỐI LIỀN VÙNG NAM TÂY NGUYÊN VỚI MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
Khai thông đường hành lang chiến lược Bắc – Nam (1959–1960) là một kỳ tích lịch sử, ghi dấu sự hy sinh và ý chí kiên cường của quân dân ta trong việc nối liền mạch máu giao thông giữa hai miền đất nước. Từ cuối năm 1959, các đội công tác (Đoàn B90 từ miền Bắc và C200, C270 từ miền Đông Nam Bộ) đã triển khai nhiệm vụ "xoi đường" trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt: rừng rậm âm u, lũ quét dữ dội và tình trạng thiếu đói trầm trọng buộc chiến sĩ phải ăn củ nầng, rau rừng để duy trì sự sống. Với phươ
Việc mở đường khai thông hành lang chiến lược Bắc - Nam trên địa bàn Nam Tây Nguyên lúc này là một nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng nhưng vô cùng khó khăn gian khổ. Trong điều kiện chiến trường mới lạ, cơ sở cách mạng chưa có, thời tiết ở Tây Nguyên lúc bấy giờ vào mùa mưa, nước các suối đều dâng cao và chảy xiết; trời âm u, việc định hướng để cắt rừng rất khó khăn, không có phương tiện, dụng cụ thiên văn kể cả la bàn, hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm, đội công tác phải mò mẫm bám từng bon, móc ráp từng người dân, phải tự lo về lương thực hậu cần trong quá trình hoạt động. Phương châm hành động là khẩn trương, thực hiện “bốn biến” (biến không thành có - biến khó thành dễ - biến ít thành nhiều - biến yếu thành mạnh) được quán triệt trong các bộ phận xây dựng phát triển cơ sở, xoi mở đường hành lang, xây dựng căn cứ và các bộ phận phục vụ. Sau khi sắp xếp phân công, phân nhiệm cho từng hướng, các đội công tác bắt đầu triển khai xuống cơ sở vào đầu tháng 12-1959.
Ở hướng đội I Đoàn B90 (Đông Quảng Đức), từ bàn đạp Jốc Ju, đội nhanh chóng phát triển cơ sở, xây dựng được vùng lõm đứng chân tạo nhiều bon xung quanh cao nguyên R’Bút, làm bàn đạp mở ra hướng bon Sa-Nar tiếp tục thành lõm bàn đạp mới mở ra hướng khu vực bon Đắk N’Ting, tạo thế tiếp cận huyện Khiêm Đức và Thị xã Gia Nghĩa (tỉnh lỵ Quảng Đức).
Cuối tháng 8-1960, Đội I nghiên cứu thấy bon Rưng là một bon lớn sở tại và nhiều bon khác địch gom lại thành nhiều khu tập trung nằm ngay bờ của ngã ba sông Đắk R’Tih và Đắk Deung, sát bìa phía Đông thị xã Gia Nghĩa, cạnh đó là quận lỵ Khiêm Đức. Đồng bào khu tập trung này cũng như bon Rưng không có quan hệ qua lại với đồng bào phía Đông Gia Nghĩa, chỉ có quan hệ qua lại với đồng bào phía Tây Gia Nghĩa mà thôi. Vì vậy, Đội I báo cáo về lãnh đạo B.4 rằng phía Tây Gia Nghĩa đã có lực lượng trong Nam hoạt động ra tới. Đội tổ chức một bộ phận 4 đồng chí gồm đồng chí Năm Nhường - Đội phó và 3 đồng chí nữa (Lạc, Ma Đen và đồng chí y tá Thời) bí mật vượt lộ 14bis (đoạn Nam Khiêm Đức) cắt rừng vượt sông Đắk R’tih, đoạn vàm Đắk R’tih giáp sông Đồng Nai để tìm lực lượng phía Nam. Đến vàm Đắk R’tih, nước sông dâng cao do có trận mưa lớn ở thượng nguồn, nước lũ đổ về chảy mạnh và xiết không thể qua được. Nhiệm vụ thôi thúc, các đồng chí đã quyết tâm thực hiện bằng cách lấy dây nối lại, cột vào thắt lưng đồng chí Thời để đồng chí tình nguyện bơi qua trước và đồng chí đã hy sinh. Sau đó, Đội I tiếp nhận tin của ban lãnh đạo B.4 thông báo ám tín hiệu và địa điểm tìm bắt liên lạc với các đồng chí phía Nam (đoàn C200) do đồng chí Nguyễn Trọng Tâm - tức anh Bảy B.K - chỉ huy gồm các đồng chí Tâm, Cột, Tư đã phát hiện được dấu vết, nơi tạm trú của cánh phía Bắc, các đồng chí dừng chân tại đây đợi đơn vị mở đường từ phía Nam ra.
Cùng thời gian Đội I xoi mở đường từ hướng Bắc xuống, ở hướng Nam (theo hiệp đồng), Đội C200 do hai đồng chí Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Trọng Tâm chỉ huy (mỗi người mang theo 5kg gạo), 1kg muối cùng xoi mở đường lên thượng nguồn sông Đồng Nai để bắt liên lạc với Đội I. Những ngày đầu hành quân, dựa vào cơ sở cách mạng phát triển, Đội C200 cơ động đến điểm hẹn khá thuận lợi. Khi phải bám địa hình dọc sông Đồng Nai để xoi mở đường (đoạn ngang Định Quán trở lên) thì bắt đầu gặp núi cao, rừng rậm rạp âm u, có nhiều trảng cỏ lau rộng mọc dày đặc phải rẽ lối suốt cả ngày mà vẫn chưa qua khỏi. Hơn nữa, dân ở đây (chủ yếu là người Mạ) đã bị địch càn quét đưa về các trại tập trung từ Vĩnh Cửu lên Đạ Oai (dọc quốc lộ 20) và canh phòng hết sức cẩn mật. Trong khi đó, lương thực của đội mang theo dù ăn thật dè xẻn thì cũng chỉ được 20 ngày. Muốn mua thêm gạo muối bổ sung cũng rất khó.
Những ngày sau đó, để duy trì sự sống và công tác, Đội C200 phải dựa vào củ chụp, củ nầng. Nhưng củ chụp ăn ngon và bở ở các khu rừng này lại rất hiếm, chỉ có củ năng là nhiều, có chỗ nổi lộ thiên nằm lúc nhúc, đào bới một lúc được cả tạ. Tuy nhiên, để có được miếng ăn khả dĩ cho êm bụng từ loại củ “khó tính” này cũng không phải dễ. Bình thường củ nầng phải cạo vỏ, thái mỏng, ngâm muối, kiên trì chắt tẻ 12 lần nước sạch cho hết độc tố là dùng được. Trong điều kiện cơ động làm nhiệm vụ, anh em phải thao tác gấp cũng bằng cách gọt vỏ, xắt mỏng nhưng phải thêm công đoạn luộc chín cho vào giỏ tre đem xuống suối ngâm, sau vài giờ lại trộn nguấy đều để miếng nầng xả hết độc tố, qua một ngày hoặc một đêm mới có thể nấu ăn được. Củ nầng được chế biến (thức ăn chính) cùng với các món ăn thịt thú rừng, cá suối, măng tre nứa, môn thục, rau tàu bay...không chỉ đóng góp duy trì sự sống mà còn tiếp sức cho bộ đội xoi mở đường tiến lên phía trước.
Nhờ tinh thần đoàn kết vượt khó, bằng bất kỳ giá nào cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, sau hơn một tháng trời bám xoi mở đường dọc sông Đồng Nai, Đội C200 đã đi sâu vào địa phận phía Nam tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, C200 gặp bon BuGor của đồng bào Mạ sống bất hợp tác với địch. Hơn thế, đội còn gặp được già làng K’Tranh - một người có cảm tình với cách mạng, chỉ bảo dân làng đấu tranh chống chính sách dồn dân lập ấp chiến lược của Mỹ - Diệm. Biết bộ đội đang làm theo lời dạy của Bác Hồ tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, già làng K’Tranh càng niềm nở đón tiếp đội. Đặc biệt, qua sự giúp đỡ của ông, đội đã mở rộng địa bàn hoạt động và bắt được liên lạc với một số bon khác để xây dựng cơ sở, củng cố căn cứ địa.
Sau khi thiết lập được bàn đạp ở Bu Gor, Đội C200 tiếp tục phát triển lên hướng Bắc. Được Bren (con trai già làng K’Tranh) dẫn đường, qua hai ngày mở xuyên các cánh rừng thoai thoải dọc triền sông, rẽ lối ngang mấy trảng bằng lau sậy rậm rạp, cả đội bắt gặp một bãi cát hình cánh cung (bao quanh bàu nước lớn có rất nhiều hải sản sinh sống) trên đó là một gò đồi đất rộng xốp mùn màu mỡ có những cây si và những cây cổ thụ phủ bóng mát rất hấp dẫn và cuốn hút - các loài muông thú về trú ngụ kiếm mồi. Phía sau gò đất cao trải dài là vùng rừng nguyên sinh rất thuận lợi cho việc trú quân, luyện tập. Đội trưởng Phạm Hồng Sơn và anh em trong đội hứng khởi đặt tên nơi đây là Bãi Cát Tiên. Bãi Cát Tiên - một địa danh mang dấu tích lịch sử không chỉ là hậu cứ, là bàn đạp an toàn, vững chắc của nhiều đơn vị lực lượng vũ trang miền Đông nói chung, của C200 nói riêng trong những tháng năm mở đường, duy trì tuyến giao liên vận chuyển, củng cố huấn luyện chiến đấu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà ngày nay còn là tên của một huyện có tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh khá phát triển - đó là huyện Cát Tiên của tỉnh Lâm Đồng.
Cuối tháng 8 năm 1960, Đội C200 xoi mở đường tới buôn Bu Sa Đa (vùng sâu giáp ranh giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Quảng Đức). Được đồng bào Mạ có cảm tình với cách mạng giúp đỡ, dẫn đường, Đội cử tổ xung kích cắt rừng, vượt sông Đồng Nai Thượng bằng bè mảng của ngư dân để sang vàm Đăk R’Tik bắt liên lạc với Đội I (B90). Tới điểm hẹn, lùng sục phát hiện được dấu vết nấu ăn, dấu cây mắc võng còn mới, anh em rất mừng. Nhưng Đội tìm mãi vẫn không thấy tổ xung kích, đành quay về Bu Sa Đa điện báo cáo xin ý kiến trên. Ít ngày sau, đội nhận được chỉ thị của lãnh đạo miền Đông Nam Bộ: “Anh em Đội I (B90) ở phía Bắc vượt sông Đăk R’Tik gặp lũ lớn bị sự cố phải lui về Bu Sanar (Khiêm Đức) để rút kinh nghiệm. Đội C200 tổ chức bám trụ (địa bàn tự chọn) chờ đợi cuối mùa mưa tiếp tục bắt liên lạc với đội bạn”. Các đồng chí trong Ban chỉ huy C200 quyết định cho anh em quay trở lại Bu Gor nhờ vào dân (chủ yếu là già làng K’Tranh) mở rộng căn cứ, bổ sung thêm lương thực.
Giữa tháng 10 năm 1960, đợt học tập chính trị và rút kinh nghiệm công tác mở đường đợt 1 kết thúc, Đội I (B90) được lệnh trở lại vùng vàm Đăk R’Tik bắt liên lạc với Đội C200 miền Đông Nam Bộ. Đội I (trước lúc lên đường) được Ban cán sự B4 thông báo cho biết địa điểm tìm gặp nhau của hai đội ở lòng suối cạn phía Nam Vàm Đăk R’Tik có những đoạn lồ ô dài chừng 3m rải nối nhau và có những khúc củi cháy dở đã tắt, đầu chìa ra ngoài. Những thông tin cụ thể về ám tín hiệu của đội bạn càng thôi thúc tổ xung kích Đội I (B90) gồm Phạm Văn Lạc, Phạm Văn Nhường, Hoàng Minh Đỏ khẩn trương hành quân đến địa điểm quy định để tìm gặp anh em phía Nam, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ xoi mở đường ở một hướng quan trọng.
Chiều ngày 30 tháng 10 năm 1960, giữa lúc tổ trinh sát phía Nam gồm 3 đồng chí Nguyễn Thanh Tâm, Huỳnh Văn Cột, Hồ Minh Tư đang chờ đợi đội bạn thì bất ngờ tổ xung kích Đội I (B90) xuất hiện. Sau khi đọc một số ám hiệu và đọc đúng tên Trưởng đoàn của nhau, hai bên cùng chạy lại ôm lấy nhau trong niềm vui mừng mừng, tủi tủi. Tối hôm đó, sau bữa liên hoan “mỗi người nấu đủ một lon gạo”, 6 anh em kẻ Nam, người Bắc cùng nhau tâm sự thâu đêm, kể cho nhau nghe chuyện nhân dân miền Nam đấu tranh quyết liệt chống Mỹ - Diệm, miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội...
Như vậy, sau gần một năm vừa phát triển xây dựng cơ sở vừa cắt rừng xoi đường. Quá trình xoi, cắt rừng gian khổ, thiếu ăn (mỗi ngày mỗi người chỉ ăn một lon sữa gạo, phải độn thêm rau rừng như lá bép, đọt mây, măng non, môn dốc,v.v..), nên sức khoẻ cán bộ, chiến sĩ trong mũi suy yếu nhiều. Mùa mưa, trời mưa cả ngày, cả đêm, suốt tuần không có mặt trời. Có ngày tuột xuống một khe suối rồi leo lên một cái đồi cũng hết một ngày và đuối sức. Nhưng vượt qua khó khăn, thiếu thốn, Đội I đã hoàn thành nhiệm vụ. Hành lang phía Đông Quảng Đức đã được khai thông để giữ mối liên lạc, mỗi bên Nam - Bắc đều cử cán bộ cùng đi với bên kia về đến căn cứ của Ban lãnh đạo, báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ mới.
Ở hướng Đội II Đoàn B90 (Tây Quảng Đức), từ bon Jră (Djrah) nằm phía Đông Bắc huyện Đức Lập làm bàn đạp để mở rộng cơ sở về hướng Nam và Tây Nam. Đội nhanh chóng tuyên truyền phát triển cơ sở và xây dựng các Bon Đăk Prí, Bu Bơ Đăk Đam, R’Loong, Bon Ng’Lao làm bàn đạp mới tiếp cận huyện lỵ Đức Lập và tiến về hướng Nam. Hướng phát triển là khu vực bon Bu-Róa, dinh điền Đức An (Đắk Song ngày nay) vượt lộ 14bis và thượng nguồn Đắk Deung, sang Tây lộ 14 tiến về Bắc chiến khu Đ (tức Phước Long lúc bấy giờ).
Vào khoảng tháng 3-1960, Đội II nhận được tin Ban Lãnh đạo thông báo ở phía Nam có lực lượng lên đến Bon Bu Gân, Tây lộ 14 khoảng 2 ngày đường, chỉ thị đội tìm cách bắt liên lạc. Nhưng lúc này đội chưa có khả năng vượt qua khu Bu-Róa nên thời cơ bị bỏ lỡ. Sau đó, đội móc ráp được 1 cơ sở bon Nâm Nung là một làng nhỏ bị gom dân về Bu-Róa, tìm hiểu tình hình Bu-Róa là một khu tập trung lớn, có tên tề “Tống Giang” ác ôn nhất vùng kèm kẹp quần chúng chặt, phát triển nhanh về hướng này còn khó khăn, đội quyết định chuyển dịch về hướng Đông, phát triển cơ sở vào bon Bu Bơ Đăk Nông, 1 bon nằm trên trục lộ 14 làm bàn đạp. Tháng 4-1960, trong dịp tuyên truyền tại bon Bu Bơ Đắk Nông, tên Tống Giang đã bố trí dân vệ hòng bắt sống toàn bộ (3 người gồm đồng chí Phùng Đình Ấm, Nguyễn Xuân Hòa, Ama Thu) nhưng đội đã được an toàn.
Sau vụ Bu Bơ Đắk Nông, tình hình phát triển về hướng Đông gặp khó khăn, cơ sở ở đây đã bị mất. đội chuyển hướng chủ yếu về hướng Tây. Lấy bon Bu Ng’lao làm bàn đạp. Các đồng chí Ba Can, Bảy Kính nhận gia đình ông “già hủi” làm cha nuôi nhằm dễ tạo chỗ dựa, bám cơ sở mật tổ chức được ở bon Bu Róa nằm ở Nam lộ 14 bis nắm tình hình tìm cách xoi đường vượt qua khu vực Bu Róa, hướng về phía ngã ba biên giới (Trois Fonfiere) đồng thời lúc này đội cũng phải tập trung củng cố cơ sở vùng mới được xây dựng đang bị tác động mạnh do hoạt động của địch sau vụ bon Bu Bơ Đắk Nông xảy ra.
Cuối tháng 9-1960, Đội II được Ban Lãnh đạo B.4 triệu tập về căn cứ học tập, bàn kế hoạch khẩn trương hoàn thành nhiệm vụ xoi mở đường. Sau khi nắm tình hình, đội đề nghị Ban Lãnh đạo B.4 báo về Liên khu, để Liên khu trao đổi với phía Nam Bộ xin hẹn địa điểm hai bên gặp nhau bằng ám tín hiệu. Ám tín hiệu là bên đến sau nhặt hai khúc gỗ ba gang đặt chéo hình chữ “X”, trên có phủ một cành lá tươi. Bên nào đến địa điểm trước thì đặt ám tín hiệu, bên đến sau nhặt 2 khúc cây gõ, bên đến trước gõ trả lời “tổng hai bên gõ bằng năm”; mật khẩu: hỏi “Thủy”, đáp “Thổ”, đúng rồi thì gọi tên nhau, anh em phía Nam gọi tên đội trưởng phía Bắc là “Ấm”.
Cuối tháng 10 năm 1960, sau khi nhận được điện thông báo của lãnh đạo phía Nam “nhất trí nội dung bức điện của Đội II (B90)” và “hẹn gặp nhau vào 20 giờ ngày 4 tháng 11 năm 1960”, các đồng chí Phùng Đình Ấm, Nguyễn Đình Kính, Nguyễn Văn Quai và Ama Sa cấp tốc lên đường đến địa điểm hẹn. Từ nương rẫy buôn Bu Ng’Lao, các anh thận trọng tiếp cận cây số 4 đường 14 (đoạn Đăk Song đi Gia Nghĩa) trước 18 giờ để vừa triển khai đội hình bảo vệ, vừa cho người đặt các vật làm ám tín hiệu.
Hơn 19 giờ ngày 4 tháng 11 năm 1960, dưới ánh trăng mờ đầu tuần trong không gian tĩnh lặng, trên gò cao taluy đường 14, các chiến sĩ Đội II (B90) phát hiện ba bóng người di chuyển hình chữ chi, từ từ đến gần trụ cây số 4. Gặp các vật làm ám tín hiệu, một người ngồi xuống cảnh giác lần sờ kiểm tra xung quanh rồi mạnh bạo nhặt hai khúc cây đặt chéo lên gõ ba cái. Đội trưởng Phùng Đình Ấm khấp khởi mừng cầm hai thanh gỗ gõ hai cái (cộng bằng 5). Phía Nam hỏi Thuỷ, phía Bắc đáp Thổ. Tiếp theo là tên người phụ trách phía Bắc “Ấm”, phía Nam “Hùng” được xướng lên như quy định. Vậy là đúng rồi! Cả Đội II (B90) gồm Phùng Đình Ấm, Bảy Kính, Nguyễn Văn Quai, Ama Sa...; Đội C270 (miền Đông Nam Bộ) gồm Hai Hùng (Hùng Mắt Kiếng), Chín Châu, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Bé, Đoàn Công Chiến ùa ra mặt đường, ôm chặt lấy nhau trong niềm vui khôn tả.
Như vậy, sau gần một năm vừa phát triển, gây dựng cơ sở quần chúng, vừa xoi mở đường, đến tháng 11-1960, Đoàn B90 (hướng Đông và hướng Tây), C200, C270 phía Nam đã hoàn thành nhiệm vụ, khai thông đường hành lang chiến lược – đường Hồ Chí Minh từ Nam Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ. Sự kiện này có ý nghĩa rất quan trọng về mặt chiến lược, chấm dứt thời kỳ chiến trường bị chia cắt, nối liền Liên Khu V với miền Đông Nam Bộ, nối liền tiền phương miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa; mở ra một vùng rộng lớn trở thành căn cứ địa kháng chiến. Việc hai cánh phía Nam và phía Bắc ráp liên lạc được với nhau ở vùng này chẳng những làm cơ sở mở rộng đường hành lang chiến lược Nam - Bắc mà còn mở ra cho phong trào cách mạng của đồng bào các dân tộc ở đây một trang sử mới. Đây là thắng lợi to lớn đạt được yêu cầu chỉ đạo của Trung ương, của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà suốt cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, Đảng và quân đội ta đã đặt ra và trải qua bao hy sinh xương máu chưa đạt được nay được ghi vào truyền thống của Đoàn B90, C200, C270 như một nét son sáng chói, rất đáng tự hào, góp phần khai thông đường hành lang chiến lược Bắc - Nam, đưa cách mạng miền Nam nói chung, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ nói riêng chuyển sang một giai đoạn mới.
Từ khi đường hành lang chiến lược Bắc – Nam được khai thông, quyết tâm của Trung ương là phải đảm bảo nhanh chóng, bí mật, an toàn trên chiều dài khoảng 200 km từ phía bắc tỉnh Quảng Đức vào tỉnh Phước Long; đảm bảo bí mật và an toàn cho các đồng chí lãnh đạo cấp cao từ Trung ương vào miền Nam hoạt động và chiến đấu. Chỉ trong một thời gian ngắn, một khối lượng hàng hoá tương đối lớn do Trung ương chi viện tập kết tại nhiều kho (chân hàng) ở Bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai) đã được nhanh chóng vận chuyển vào Nam Tây Nguyên - Đông Nam Bộ, trong đó có nhiều loại hàng tối cần thiết như máy truyền tin, đài phát thanh, thuốc men, dụng cụ y tế... Ngoài khối lượng hàng hoá vận chuyển trên tuyến ngày một lớn, lực lượng làm nhiệm vụ trên tuyến hành lang đoạn Nam Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ trong đó có tỉnh Quảng Đức (Đắk Nông ngày nay) còn tổ chức đưa đón, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các đoàn cán bộ cấp cao của ta từ miền Bắc vào, như Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (về Nam Bộ giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam), đưa đón các đoàn của đồng chí Võ Chí Công (Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam), Trần Chí Cương ( Bí thư Khu uỷ Khu 5), Trần Nam Trung (Uỷ viên Thường vụ Trung ương Cục), Trần Lê (Bí thư Khu uỷ Khu 6), các đồng chí tướng lĩnh Trần Văn Quang, Nguyễn Minh Châu, Đồng Văn Cống... Ban hành lang Quảng Đức đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ dẫn đường, cung cấp, chi viện lương thực, thực phẩm tiếp tục tiến vào miền Nam thành lập chủ lực Miền, tạo điều kiện thuận lợi để đưa sức người sức của từ hầu phương lớn miền Bắc vào giải phóng miền Nam.
Khai thông đường hành lang chiến lược Bắc – Nam, phong trào cách mạng ở Tây Nguyên nói riêng và miền Nam nói chung phát triển hết sức thuận lợi, bước vào giai đoạn lịch sử mới của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Đây là thành công vô cùng to lớn, tuyến đường hành lang đã trở thành con đường huyết mạch chiến lược trọng yếu cho cách mạng cả nước nói chung, Quảng Đức nói riêng, là một bộ phận quan trọng cho các cơ quan chính quyền cách mạng hoạt động và chiến đấu, có vai trò thiết yếu trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vận chuyển sức người sức của từ miền Bắc vào miền Nam, tạo sức mạnh to lớn để đi đến thắng lợi trong cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.



