KHẨU SÚNG TRƯỜNG VÀ CHIẾC TẨU GÃY: HAI KÝ ỨC CỦA KAN LỊCH GIỮA ĐẠI NGÀN
Năm 1964, ở vùng A Lưới, Kan Lịch cùng nhóm du kích mai phục gần sân bay, chịu đói khát và nguy cơ bị phát hiện để đánh máy bay bằng súng trường. Nhiều năm sau, bên cạnh chiến công bắn rơi chiếc Dakota, bà còn giữ một chiếc tẩu đã gãy, kỷ vật tình cảm từ thời kháng chiến. Qua lời kể của Kan Lịch và tư liệu bảo tàng, hai hình ảnh ấy hé lộ cả lòng can đảm lẫn những gắn bó đời thường của nữ chiến sĩ Pa Cô.

Trong ký ức về Kan Lịch, nữ du kích Pa Cô ở miền Tây Thừa Thiên Huế, có hai hình ảnh: một khẩu súng trường và một chiếc tẩu thuốc cũ. Khẩu súng gắn với trận đánh máy bay năm 1964; chiếc tẩu là món quà bà giữ qua chiến tranh, sau này trao cho Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Một vật nhắc chiến đấu, vật kia giữ tình người. Cả hai thuộc về tuổi trẻ A Lưới.
Kan Lịch sinh năm 1943 tại Hồng Bắc, A Lưới, trong một gia đình Pa Cô. Mười bốn tuổi, bà làm giao liên, chuyển thư từ cho cơ sở. Theo lời kể trên Báo Quân đội nhân dân, mỗi khi phát hiện lính vào một nhà, bà đặt số viên đá tương ứng ngoài cổng để báo tin. Vài viên đá giúp đồng đội nhận biết hiểm nguy.
Trong chuyến xuống Huế mua bút mực, pin và vật dụng cho kháng chiến, bà cùng người chú Hồ Vai bị bắt. Cô gái giải thích hàng hóa dành cho bà con học chữ, dùng pin soi ếch. Quân đối phương giam giữ, tra hỏi nhưng không lấy được điều chúng muốn biết. Thời gian giam giữ chưa thống nhất; bà được thả và tiếp tục hoạt động. Năm 1961, Kan Lịch gia nhập du kích địa phương.
Mẹ không muốn con gái ra trận. Trong phỏng vấn của Đài Truyền hình Việt Nam, Kan Lịch nhớ mẹ sợ con bị thương, không ai lấy làm chồng. Bà đáp bằng sự kiên quyết: “Tôi phải đi”. Đó là nỗi lo của một gia đình trước lựa chọn hiểm nguy.
Năm 1964, các cuộc càn quét đe dọa căn cứ A Lưới. Máy bay vận chuyển binh lính phục vụ các đợt tiến công, còn du kích có vũ khí hạn chế. Kan Lịch được giao chỉ huy một nhóm nhỏ đánh máy bay hoạt động ở khu vực sân bay. Đánh máy bay bằng súng trường rất khó. Bà nói với phóng viên truyền hình rằng nhiệm vụ ấy không dễ thực hiện. Bà cũng nhớ có đồng đội không có súng, phải dùng gậy, làm bẫy để cùng chiến đấu.
Nhóm du kích bí mật đến gần sân bay, quan sát đường máy bay lên xuống. Theo những hồi ức được ghi lại, họ chịu nắng nóng, đói khát nhiều ngày, vừa luyện ngắm bắn vừa giấu vị trí. Người cảnh giới đường bộ, người theo dõi máy bay. Ít ai kể về những giờ chờ đợi: chỉ một lần lộ chỗ ẩn cũng có thể khiến cả nhóm bị vây bắt.
Khi thời cơ xuất hiện, Kan Lịch dùng súng trường bắn vào máy bay vận tải Dakota vừa cất cánh. Theo hồi ký được Báo Dân trí dẫn lại, viên đạn trúng thùng nhiên liệu, khiến máy bay bốc cháy rồi rơi. Báo Nhân Dân và Báo Công an nhân dân đều xác nhận chiến công bắn rơi máy bay bằng súng trường. Chiến công được chuẩn bị bằng nhiều ngày luyện tập và chờ đợi. Để bắn trúng mục tiêu trên không, người chỉ huy phải quan sát hoạt động bay, chọn thời điểm và giữ cả tổ không bị phát hiện.
Nhưng máy bay rơi chưa phải kết thúc nhiệm vụ. Đối phương bao vây, lùng sục tìm nhóm du kích. Theo lời kể trên Báo Quân đội nhân dân, họ bị cô lập, cạn lương thực nhưng vẫn rút lui an toàn. Phần khuất sau chiến thắng là: người chỉ huy phải giữ được những đồng đội vừa cùng mình lập công. Họ phải trở về.
Nhiều năm sau, nhớ trận đánh ấy, bà nói với Đài Truyền hình Việt Nam: “Mình không ngờ một khẩu súng trường mà bắn rơi được máy bay”. Đó là sự ngạc nhiên chân thành trước kết quả của một vũ khí thô sơ.
Cũng năm 1964, tại A Lưới, Kan Lịch nhận chiếc tẩu thuốc từ một người đồng đội. Theo câu chuyện bà kể với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, các nữ du kích có người dùng tẩu nhưng thường tránh hút khi phục kích để khỏi lộ vị trí. Vài năm sau, phần ngậm chiếc tẩu bị gãy. Bà vẫn giữ nó như một kỷ vật tình cảm, dù vật dụng đã hỏng.
Chiếc tẩu gợi ra cuộc sống bên cạnh chiến đấu. Giữa những lần tránh truy quét, vẫn có món quà trao nhau. Năm 2005, khi cán bộ đến thăm, bà tặng chiếc tẩu cho Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, mong người xem hiểu thêm phong tục Pa Cô và tình cảm đôi lứa trong chiến tranh. Kỷ vật kể một chuyện khác bên khẩu súng trường. Chiếc tẩu không còn nguyên vẹn, nhưng bà vẫn xem nó đáng trao lại cho những người gìn giữ lịch sử.
Năm 1967, Kan Lịch được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm sau, bà ra miền Bắc, được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo lời bà kể trên Báo Nhân Dân, Người tặng bút viết, đài thu thanh và dặn bà tiếp tục học tập, rèn luyện, đừng thỏa mãn với danh hiệu. Chiếc đài cũng được trao cho bảo tàng gìn giữ. Những vật nhỏ nối chiến trường với đời sống hòa bình.
Nhớ Kan Lịch, người ta có thể nhắc chiếc Dakota bị bắn rơi năm 1964. Nhưng cũng cần nhớ những người cùng bà chịu đói, cảnh giới, giữ đường rút; nhớ người mẹ lo con gái bị thương và chiếc tẩu gãy vẫn được gìn giữ. Sự gan dạ giúp con người vượt qua hiểm nguy. Tình yêu đồng đội, gia đình khiến câu chuyện còn sống trong thế hệ sau.



