KHI KẺ THÙ NGẢ MŨ CÚI ĐẦU: NHỮNG BẠI TƯỚNG PHÁP NÓI GÌ VỀ ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP?
KHI KẺ THÙ NGẢ MŨ CÚI ĐẦU: NHỮNG BẠI TƯỚNG PHÁP NÓI GÌ VỀ ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP ?
Ch.iến th.ắng vĩ đại của một vị tướng không chỉ được đo đếm bằng những tấm huân chương, mà còn được khẳng định qua sự kính phục tuyệt đối từ chính những kẻ thù sừng sỏ nhất bên kia chiến tuyến. Sau "thất bại chấn động địa cầu" tại Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954, những viên tướng nhà nghề kiêu hãnh của quân đội viễn chinh Pháp đã phải thốt lên những lời cay đắng nhưng đầy nể phục dành cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp: 1. Thiếu tướng Christian de Castries (Đờ Cát) - Chỉ huy trưởng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ: Sau khi bị bắt sống và trở về Pháp, viên tướng quý tộc này đã thừa nhận thất bại một cách tâm phục khẩu phục: "Quân đội viễn chinh Pháp và các tướng tá Pháp chúng tôi là một đội quân nhà nghề, thiện chiến và trang bị hiện đại. Sự kiện tướng Giáp thắng chúng tôi ở Điện Biên Phủ làm chúng tôi ngạc nhiên về tài năng của ông... Tôi thừa nhận tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan hơn tôi đã đành, mà còn hơn cả tướng Cogny và Đại tướng Navarre. Tôi hân hạnh làm đối thủ của tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông!" Đờ Cát cũng không giấu nổi sự kinh ngạc trước nghệ thuật quân sự toàn diện của vị Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam: "Tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích, mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng, và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương". 2. Tướng Marcel Bigeard - Cựu Phó chỉ huy lực lượng dù tại Điện Biên Phủ (Sau này là Quốc vụ khanh Bộ Quốc phòng Pháp): Viên sĩ quan khét tiếng với những trận đánh t.ử thủ tại các cứ điểm đã phải ngậm ngùi ca ngợi sức mạnh của những người lính áo vải: "Những con người do tướng Giáp đào luyện thật là những chiến binh tuyệt vời! Những cuộc phản kích của quân Việt chặn đứng pháo binh của chúng tôi, các khẩu súng cối của chúng tôi không thể nhả đạn". Và một câu nói nổi tiếng đã trở thành huyền thoại của Bigeard, thừa nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta: "Nếu hồi ấy là người Việt Nam, tôi cũng sẽ trở thành Việt Minh!"
Trong lịch sử Chiến dịch Điện Biên Phủ, tướng De Castries từng thể hiện thái độ đầy tự tin, thậm chí có phần ngạo mạn khi gửi thư “thách đấu” Đại tướng Võ Nguyên Giáp, như một cách phô trương sức mạnh của tập đoàn cứ điểm được thực dân Pháp xem là “pháo đài bất khả xâm phạm”. Tuy nhiên, sau thất bại nặng nề vào ngày 07 tháng 5 năm 1954, những nhận định của ông về đối phương đã có sự thay đổi sâu sắc. Qua các báo cáo quân sự cũng như những lời tâm sự trong thời gian bị bắt làm tù binh, De Castries đã bộc lộ sự thừa nhận, kính phục trước tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam và phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam.Điều gây ấn tượng mạnh nhất đối với De Castries chính là tài năng quân sự xuất chúng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu trước đó phía Pháp từng cho rằng quân đội Việt Nam chỉ có thế mạnh trong chiến tranh du kích, thì thực tế tại Điện Biên Phủ đã chứng minh điều hoàn toàn ngược lại. Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ vận dụng linh hoạt nghệ thuật chiến tranh nhân dân, mà còn thể hiện trình độ chỉ huy sắc sảo trong tác chiến trận địa, hiệp đồng binh chủng, tổ chức bao vây, chia cắt, nghi binh và đánh lừa hệ thống tình báo của đối phương. Chính De Castries cũng phải thừa nhận rằng tướng Giáp là người am hiểu sâu sắc binh nghiệp, khôn ngoan và tài giỏi hơn cả ông, đồng thời vượt lên cả những tướng lĩnh cấp cao của Pháp như Cogny và Navarre. Đối với De Castries, thất bại dưới tay một vị tướng tài ba như vậy vừa là nỗi cay đắng của kẻ chiến bại, vừa là sự thừa nhận không thể phủ nhận trước một đối thủ lớn. Không chỉ kính phục người chỉ huy tối cao của chiến dịch, De Castries còn dành sự đánh giá rất cao đối với bộ đội Việt Nam. Ông nhìn nhận bộ binh Việt Nam là một lực lượng có sức chiến đấu đặc biệt, thuộc hàng xuất sắc trên thế giới lúc bấy giờ. Điều khiến ông khâm phục không chỉ là lòng dũng cảm, tinh thần xung phong không quản hy sinh, mà còn là sự chuẩn bị công phu, khả năng rèn luyện bền bỉ và trình độ thích ứng nhanh với nhiều hình thức tác chiến khác nhau.
Những chiến sĩ Việt Nam đã biến khó khăn thành sức mạnh, biến địa hình hiểm trở thành lợi thế, từng bước siết chặt vòng vây, làm tan rã ý chí chiến đấu của quân Pháp trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.Một yếu tố khác khiến De Castries đặc biệt kinh ngạc là công tác hậu cần của Việt Nam. Trong điều kiện địa hình rừng núi hiểm trở, phương tiện vận chuyển thô sơ, lại thường xuyên bị máy bay và pháo binh Pháp đánh phá, quân và dân Việt Nam vẫn bảo đảm được một khối lượng lớn lương thực, vũ khí, đạn dược cho mặt trận. Những đoàn dân công, xe đạp thồ, ngựa thồ, thuyền mảng và đôi vai con người đã tạo nên một kỳ tích hậu cần hiếm có trong lịch sử chiến tranh. Chính sức mạnh bền bỉ ấy đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi quyết định tại Điện Biên Phủ.Đặc biệt, trong thời gian bị bắt làm tù binh, De Castries còn có điều kiện cảm nhận sâu sắc hơn về lòng nhân đạo và sự cao thượng của nhân dân Việt Nam. Dù là viên tướng chỉ huy phía đối phương, ông vẫn được đối xử đúng mực, được bố trí nơi ở, được đọc sách báo, được chăm sóc khi đau ốm và bảo đảm các điều kiện sinh hoạt cần thiết. Điều khiến ông xúc động là trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều thiếu thốn, những người Việt Nam vẫn dành cho tù binh sự đối xử nhân văn, bình đẳng và đầy bao dung. Qua đó, De Castries nhận ra ở nhân dân Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ, một niềm tin mãnh liệt vào độc lập dân tộc, một tinh thần sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng cao đẹp mà họ đã lựa chọn.Trong các báo cáo gửi về Bộ Quốc phòng Pháp, De Castries cũng phân tích nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại của quân Pháp tại Điện Biên Phủ, như hệ thống công sự không đủ vững chắc, nguồn tiếp tế bị cắt đứt, tinh thần binh sĩ sa sút và sự chủ quan trong đánh giá đối phương. Tuy nhiên, vượt lên trên tất cả những lý do đó, ông buộc phải thừa nhận rằng số phận của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã được định đoạt bởi một đối thủ có bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và nghệ thuật quân sự vượt trội. Chiến thắng Điện Biên Phủ vì thế không chỉ là thất bại quân sự của thực dân Pháp, mà còn là sự khẳng định hùng hồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp./.


