KHÍ TIẾT LÂM TRIỀU CỦA TỔNG ĐỐC HOÀNG DIỆU
Trong lịch sử giữ nước đầy thăng trầm của dân tộc Việt Nam thế kỷ XIX, có những cái tên đã vượt qua giới hạn của thời gian, trở thành biểu tượng bất diệt cho lòng trung quân ái quốc và khí phách kiên trung trước họng súng ngoại bang. Nhắc đến tinh thần dũng cảm, thà chết chứ không chịu hàng giặc, nhân dân cả nước và người dân đất Quảng luôn cúi đầu kính cẩn trước hương hồn của Tổng đốc Hoàng Diệu (sinh năm 1829).
Người con ưu tú của đất học Điện Bàn
Sinh ra trong một gia đình khoa bảng tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – vùng đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học và trọng nghĩa khí, Hoàng Diệu sớm đỗ đạt cao và bước vào chốn quan trường. Là một vị quan thanh liêm, mưu trí và hết lòng vì dân vì nước, ông đi đến đâu cũng được nhân dân kính trọng, tin yêu.
Năm 1880, giữa lúc thực dân Pháp đang rắp tâm thôn tính nốt nửa phần bờ cõi phía Bắc, Hoàng Diệu được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm làm Tổng đốc quân vụ đại thần giữ thành Hà Nội – thủ phủ của cả vùng Bắc Kỳ. Ý thức được trọng trách nặng nề trước lịch sử và nhân dân, ông đã ngày đêm đốc thúc quân sĩ củng cố thành lũy, rèn luyện binh khí, chuẩn bị thế trận quyết tử để bảo vệ mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.
Quyết tử cùng thành Hà Nội và cái chết hóa bất tử
Ngày 25 tháng 4 năm 1882, thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Hà Nội với hỏa lực vượt trội từ các chiến hạm trên sông Hồng. Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc, Tổng đốc Hoàng Diệu đã tự mình lên mặt thành, trực tiếp chỉ huy quân sĩ anh dũng chiến đấu, đẩy lùi nhiều đợt tiến công điên cuồng của giặc.
Tuy nhiên, do sự phản bội của một số kẻ hèn nhát bên trong và hỏa lực quá chênh lệch, kho thuốc súng trong thành bị trúng đạn bốc cháy dữ dội, thành Hà Nội rơi vào thế cô lập và thất thủ. Biết không thể đảo ngược tình thế, nhưng quyết không chịu khuất phục để rơi vào tay giặc, cũng không chấp nhận sự đầu hàng nhục nhã, Tổng đốc Hoàng Diệu đã đi vào hành cung, viết bức di biểu đẫm lệ gửi về triều đình bày tỏ tấm lòng trung trinh của mình.
Sau đó, ông ung dung đi đến khu vườn Võ Miếu, dùng chiếc khăn lụa thắt cổ tuẫn tiết dưới bóng cây cổ thụ vào trưa ngày 25/04/1882. Ông ngã xuống, mang theo khí tiết thanh cao của một bậc trượng phu, dùng cái chết để giữ trọn lời thề với non sông đất nước.



