KHOA NGOẠI NGỮ_Anh Hùng Dương Văn Bé – Biểu Tượng Của Tinh Thần Quyết Tử Cho Tổ Quốc Quyết Sinh
Anh Hùng Dương Văn Bé – Biểu Tượng Của Tinh Thần Quyết Tử Cho Tổ Quốc Quyết Sinh
“Có nơi nào như đất nước chúng ta
Viết bằng máu và ngàn chương sử đỏ
Khi giặc đến vạn người con quyết tử
Cho một lần Tổ quốc được sinh ra…”
Vào tháng 8/1945, nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Việt Minh và chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành được thắng lợi. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Khi mà toàn dân ta đang vui sướng ngập tràn trong không khí sau ngày đất nước giành được độc lập thì quân Pháp lại tràn vào với mong muốn một lần nữa xâm lược nước ta. Chính quyền ta đã liên tục nhân nhượng với mong muốn được hòa bình, trái ngược, thực dân Pháp lại ngày càng từng bước ép sát. Cuối cùng, với hành động gây hấn quá đáng của Pháp khi ra tối hậu thư ép chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu để Pháp làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự tại Hà Nội thì vào ngày 19/12/1946 ban thường vụ Trung Ương Đảng đã phải ra lời “kêu gọi toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp” nhằm bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn độc lập. Trong giai đoạn đầu với muôn vàn khó khăn, để có thể giam chân địch tại thủ đô nhằm tạo thời gian cho cả nước chuyển sang thời chiến, xây dựng thế trận kháng chiến, kết hợp đấu tranh vũ trang, chính trị, ngoại giao thì với tinh thần cảm tử, khi vũ khí thời đó còn chưa được phát triển hoàn thiện thì quân ta đã phải sử dụng bom Ba Càng - một vũ khí thô sơ và vô cùng nguy hiểm để tiêu hao sinh lực địch, buộc Pháp phải điều quân lên Việt Bắc, làm phá sản kế hoạch "đánh nhanh, thắng nhanh" của chúng, mở ra thắng lợi cho Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 và cả cuộc kháng chiến kéo dài 9 năm, anh hùng Dương Văn Bé một trong những cảm tử quân sử dụng bom Ba Càng tiêu biểu trong mặt trận Hà Nội đó với gần 60 ngày đêm chiến đấu.
Anh Dương Văn Bé sinh năm 1927 tại làng Vĩnh Tuy, nay là phường Vĩnh Tuy, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Nhà anh là một gia đình nghèo có 5 anh em và Bé chính là đứa con thứ 2 trong gia đình. Cha mẹ anh mất sớm nên anh sống với anh cả Dương Văn Bát và chị dâu Dương Thị Lộc. Cũng như bao gia đình khác sống ở làng Vĩnh Tuy, gia đình anh Văn Bé sống bằng nghề trồng rau tươi các loại để cung cấp cho nội thành. Năm anh 15 tuổi, anh làm thợ học việc tại xưởng cơ khí Favreau của tư nhân Pháp ở cảng sông Hồng.
Trong cuộc cách mạng tháng 8, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Dương Ngà cùng với lòng yêu nước, sẵn sàng chiến đấu của các thanh niên thời bấy giờ, anh hùng Dương Văn Bé cùng các lực lượng thanh niên vũ trang đã cầm các vũ khí vật dụng thô sơ như giáo, mã tấu tham gia cuộc khởi nghĩa giành chính quyền vào tại Hà Nội vào ngày 19/8/1945. Sau đó anh tiếp tục gia nhập Thanh niên cứu Quốc với mong muốn được tiếp tục phục vụ cho đất nước, hăng hái góp phần xây dựng xã hội chế độ mới.
Sau Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946), Vĩnh Tuy được tăng cường tự vệ, đồng chí Văn Bé tham gia trung đội tự vệ thôn, luyện tập quân sự, chống Việt gian. Cuối năm 1946, khi quân Pháp gây hấn, Bé cùng tự vệ và bộ đội đào hào, đắp ụ chiến đấu khắp Vĩnh Tuy, Lương Yên, Lò Lợn. Từ 19/12/1946, anh liên tục xung phong phục vụ các đơn vị chiến đấu ở Tiểu đoàn 212 Trận địa pháo Lò Bát Đồn Thủy – STAI Quai – Phả Đen. Quân dân Vĩnh Tuy chiến đấu kiên cường giữ tuyến phía đông nam Hà Nội. tuy vậy rạng sáng 15/1/1947, Pháp huy động thủy lực không quân tấn công Vĩnh Tuy Đoài, đốt phá toàn bộ làng. Gần 100 dân thường bị giết hại, nhiều chiến sĩ hy sinh. Sự tàn bạo của thực dân Pháp lúc này càng được thể hiện rõ khiến bao gia đình tan nát, hằng trăm ngàn người phải căm phẫn. Có lẽ đây cũng là một trong những nguyên do khiến Dương Văn Bé càng thêm quyết tâm tiêu diệt quân Pháp dù cho anh biết rằng ai sử dụng bom Ba Càng đều không thể sống sót. Đây là loại vũ khí chống tăng cầm tay thô sơ, có hình dạng đầu phễu với ba càng sắt ở miệng, được gắn vào một cây gậy gỗ dài, dùng để đâm trực diện vào xe tăng, xe bọc thép địch, phát nổ khi va chạm, là biểu tượng anh hùng của tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Thế nên, những chiến sĩ tham gia và hy sinh anh dũng trong những ngày đầu kháng chiến, sử dụng bom ba càng mới có tên Cảm Tử Quân Thủ đô” thể hiện cho tinh thần "vì nước quên thân, vì dân phục vụ" của họ. Anh tham gia vào mặt trận Hà Nội 1947, anh cùng đồng đội sát cánh chiến đấu chống trả quyết liệt để bảo vệ làng mình, bảo vệ Thủ Đô. Đây chính là nơi nêu cao tinh thần anh hùng dân tộc, nơi đồng chí Dương Văn Bé hi sinh oanh liệt khi làm nhiệm vụ. 21h đêm 9/4/1947, đơn vị xuất phát từ Lạc Thị, qua Vân Điền - Khuyển Lương - Nam Dư - Đông Thiên để áp sát Vĩnh Tuy. Quả bom nặng 10kg, dài, có kíp và ba cảnh, được đặt trong rọ trẻ do cụ Ban chế tạo. Đến quán bánh Vĩnh Tuy Đoài (cách bốt ~400m), trung đội 637 và 639 bố trí sẵn sàng. Vào đúng 1h sáng ngày 10/04/1947, anh đã xung phong ôm bom cảm tử, lao vào bốt địch. Kết quả, vụ nổ lớn làm 20 lính Âu Phi chết, phá hủy nhiều vũ khí, củng cố tinh thần quân dân Thủ đô còn anh bị sức ép bom và hy sinh anh dũng, trở thành biểu tượng cho
|
lòng yêu nước và tinh thần quyết tử của thanh niên Hà Nội.
Để ghi nhớ ơn anh hùng ngày 21/10/1957, hài cốt anh được đưa về Nghĩa trang Mai Dịch. Ngày 3/3/1958, truy tặng Huy chương Chiến thắng hạng Nhất. Ngày 23/2/2010, truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Và một con phố tại Hà Nội được đặt tên "Dương Văn Bé" để tưởng nhớ công lao của người anh hùng không sợ hãi anh dũng hi sinh cho Tổ quốc.
Thời gian có thể vùi lấp những tượng đài, những công trình kì vĩ, nhưng hình ảnh về vẻ đẹp của những người anh hùng xả thân hết mình hi sinh vì đất nước sẽ ở mãi trong kí ức của những thế hệ con cháu mai sau. Anh hùng lực lượng vũ trang Dương Văn Bé không chỉ là một chiến sĩ quả cảm của những năm tháng đạn bom mà còn là ngọn lửa ấm âm thầm thắp sáng trong lòng mỗi người Việt Nam hôm nay. Khi khép lại những trang viết về anh, hình ảnh người lính trẻ gan góc giữa chiến trường vẫn như còn ở đó: mạnh mẽ, kiên định và tràn đầy lý tưởng. Những chiến công của anh không đơn thuần là dấu mốc lịch sử, mà còn là lời nhắc nhở thiêng liêng về trách nhiệm và lòng yêu nước mà mỗi thế hệ phải tiếp nối. Trong nhịp sống hiện đại, câu chuyện về Dương Văn Bé vẫn vang lên như một tiếng gọi lặng thầm, khiến chúng ta biết trân trọng hòa bình, biết sống tử tế, sống có mục đích hơn. Và dù thời gian có lặng lẽ trôi, tinh thần chiến đấu và sự hy sinh cao đẹp của anh vẫn sẽ mãi ở lại, như một biểu tượng bất tử trong trái tim dân tộc.



