KHOA NGOẠI NGỮ_VŨ XUÂN THIỀU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
VŨ XUÂN THIỀU
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
Lịch sử chẳng có cách nào để quay lại sửa chữa, cũng chẳng có cách nào để ta bớt đi những mất mát đã từng xảy ra. Nó chỉ đứng đó, như một tấm gương lạnh lẽo nhưng không bao giờ phai mờ, phản chiếu những tháng ngày mà dân tộc đã đi qua bằng cả máu, nước mắt và lòng quả cảm. Nhìn lại, ta không chỉ tìm lại ký ức, mà còn tìm lại những con người đã sống trọn vẹn với Tổ quốc, họ hiến dâng thanh xuân của mình để mùa xuân đất nước mãi trường tồn, bất diệt.
Trong những tháng năm khói lửa ấy, có một cột mốc đặc biệt, đó là: Năm 1972- một năm mà mỗi trang lịch sử đều thấm mùi khói súng. Từ những con đường rực lửa ở Trị-Thiên cho đến bầu trời đen đặc tiếng B-52 gầm thét trên Hà Nội, đất nước như bị siết chặt giữa hai gọng kìm sắt. Tám mươi mốt ngày đêm Thành cổ Quảng Trị- đó không chỉ là một trận địa, mà là một nấm mộ chung, nơi tuổi hai mươi của biết bao người lính hóa thành “cát bỏng, gió Lào” và hòa vào dòng Thạch Hãn đỏ ngầu phù sa và máu. Ta không nỡ nhớ, mà cũng chẳng thể quên.
Nhưng… năm ấy còn có “Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không”. Khi bầu trời Hà Nội sáng rực từng vệt lửa, Những phi công trẻ như Vũ Xuân Thiều, những chiến sĩ tên lửa, ra-đa, những người dân ngồi trong hầm trú ẩn mà tay vẫn run run bóp chặt chiếc đài bán dẫn… Tất cả tạo nên một bản “chiến ca lịch sử”, khiến cả thế giới phải nhìn Việt Nam bằng con mắt khác. Những chiến công ấy không tự nhiên mà đẹp. Chúng được viết bằng máu của đồng bào, bằng những cái tên không kịp khắc lên bia đá, bằng những nén hương thầm thắp mỗi chiều.
Vũ Xuân Thiều sinh ngày 7 tháng 2 năm 1945, anh sinh ra ở xã Hải An, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Nhưng sinh sống tại phố Đặng Dung, Hà Nội. Anh là con thứ bảy trong gia đình có mười người con. Thuở nhỏ, anh học tại Trường THPT Chu Văn An, sau đó tiếp tục theo học Đại học Bách khoa Hà Nội. Đến năm 1965, khi đang là sinh viên năm thứ ba, anh bí mật trốn gia đình để nhập ngũ, chỉ sau khi được tuyển chọn vào lực lượng không quân, ông mới báo tin về cho gia đình. Năm 1968, sau khi hoàn thành xuất sắc khóa đào tạo phi công tại Liên Xô, anh trở về nước và được biên chế vào Đoàn Không quân Sao Đỏ (Trung đoàn 921).
Câu chuyện thời hoa lửa:
Năm 1972, trong bối cảnh Mỹ đẩy mạnh “Chiến dịch Linebacker II”, họ sử dụng máy bay ném bom chiến lược B-52 tập kích dữ dội vào Hà Nội và Hải Phòng. Mục tiêu của họ là tạo sức ép quân sự tối đa, buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ký Hiệp định Paris theo những điều kiện có lợi cho Mỹ. Đất nước đứng trước thử thách khốc liệt, và chính trong thời khắc ấy, những người lính như Vũ Xuân Thiều đã bước vào trận chiến với tất cả lòng quả cảm, để bảo vệ bầu trời Tổ quốc.
Nhận thấy việc đánh từ xa khó đạt hiệu quả, Vũ Xuân Thiều đã đề xuất phương án công kích ở cự ly gần để tăng khả năng bắn trúng mục tiêu. Đây là cách đánh táo bạo, mang tính rủi ro rất lớn cho cả máy bay lẫn phi công, nhưng ông vẫn lựa chọn vì đó là phương án để có thể giành lại cơ hội chiến thắng.
Đêm 28 tháng 12 năm 1972, Vũ Xuân Thiều được lệnh cất cánh từ sân bay dã chiến Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Lệnh thông báo từ sở chỉ huy là có máy bay cách 15km,phía trước 50 độ, nhưng do nhiễu quá nặng,Vũ Xuân Thiều vẫn chưa phát hiện được mục tiêu. Lúc này tại sở chỉ huy, Sĩ quan dẫn đường trên hiện sóng ra-đa, Trần Xuân Mão, bằng kinh nghiệm dày dạn, phát hiện một chấm trắng đục giữa nền nhiễu và lập tức khẳng định: đó là B-52. Theo quan sát, đội B-52 đã đổi hướng, bay ngược lên Sơn La, rồi mới vòng xuống để tiến hành đánh phá Hà Nội. Sở chỉ huy lập tức ra lệnh: Thiều vòng phải gấp, điều khiển máy bay bay theo hướng 90 độ, đi qua Sầm Nưa, lên phía Bắc để đuổi theo tốp B-52 đang tiến về hướng Nà Sản, Sơn La.
Khi đến Sơn La, Vũ Xuân Thiều phát hiện mục tiêu, anh lập tức báo cáo và tăng tốc độ bám sát. Trong bầu trời tối đen, ra-đa lại bị nhiễu rất nặng nên rất khó phán đoán cự ly, Thiều phán đoán cự ly bằng mắt. Lúc này tại sở chỉ huy tiền phương, Phó Tư lệnh Trần Mạnh nhắc: "046 bật công tắc bắn cả loạt, kiên quyết tiêu diệt địch". Phi công Vũ Xuân Thiều trả lời: "046 nghe rõ!". Anh đã phóng cả hai quả tên lửa nhưng chưa hạ được nó. Khoảnh khắc ấy anh đã chọn biến bản thân mình thành quả tên lửa thứ ba, và rồi anh liền tăng tốc đâm thẳng vào chiếc B-52 còn mang đầy bom chưa ném. Khoảnh khắc va chạm ấy, bầu trời Sơn La loé sáng như một vệt chớp xé ngang màn đêm, rồi chìm vào khoảng lặng ghê người của chiến tranh. Chiếc “pháo đài bay” khổng lồ bị đánh trúng, bốc cháy và rơi xuống trong tiếng gầm đổ nát, không thể kịp tiến vào nội đô Hà Nội. Và anh cũng đã hi sinh trong trận chiến…
Vào khoảnh khắc ấy…, khi Vũ Xuân Thiều quyết định biến chính mình thành “quả tên lửa thứ ba”, hẳn trong tim anh cũng có một thoáng run sợ rất con người. Bởi dù dũng cảm đến đâu, anh vẫn chỉ là một chàng trai mới ngoài đôi mươi, biết rõ rằng cú lao vào B-52 ấy đồng nghĩa với việc không còn đường trở lại.
Nhưng nếu trong giây phút sinh tử đó, anh chỉ chần chừ một nhịp thở, chỉ lùi lại nửa khoảnh khắc, thì tốp B-52 kia sẽ tràn thẳng vào nội đô Hà Nội. Và rồi biết bao công sức của Đảng, của quân dân Thủ đô, biết bao xương máu đã đổ xuống suốt những ngày “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”… tất cả có thể bị cuốn trôi trong biển lửa. Vì thế, anh không cho phép mình do dự. Không cho phép mình sợ hãi. Không cho phép mình thất bại.
Trong khoảnh khắc mà một người bình thường sẽ nghĩ cho bản thân, anh nghĩ cho Tổ quốc. Trong khoảnh khắc mà cái chết cận kề nhất, anh nhìn thấy sự sống của cả Thủ đô phía sau lưng mình.
Và anh lao vào- như một mũi tên cuối cùng, như lời thề không nói thành lời của tuổi trẻ Việt Nam thời hoa lửa.
Anh mất ngày 28 tháng 12 năm 1972, khi chỉ mới 27 tuổi, để lại phía sau dòng tên sáng chói trong trang sử Không quân Việt Nam. Hành động của anh, dù ở góc độ nào vẫn được xem là biểu tượng của tinh thần quyết tử để bảo vệ bầu trời Tổ quốc, giữa những ngày ác liệt nhất của Điện Biên Phủ trên không. Khi hy sinh, anh là đảng viên, thượng uý, trung đội trưởng thuộc Đại đội 9, Trung đoàn 927, Sư đoàn 371, Không quân Nhân dân Việt Nam.
Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công hạng ba.
Tháng 12 năm 1994, anh đã được Chính phủ Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Anh hùng Vũ Xuân Thiều không chỉ là một chương sử hào hùng được khắc ghi trong biên niên sử vẻ vang của dân tộc, mà còn là ngọn hải đăng sáng mãi dẫn lối cho thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau. Trong bức thư gửi gia đình, lời khẳng định đanh thép của anh: “Với B-52, tất cả đã sẵn sàng quyết chiến, bằng bất cứ giá nào cũng đánh, bất cứ điều kiện nào cũng đánh…” đã gói trọn ý chí sắt đá của người lính, biến tình yêu Tổ quốc thành hành động tự nguyện hóa thân thành “quả tên lửa thứ ba” diệt gọn kẻ thù. Sự hy sinh trọn vẹn ấy, khi anh dũng lao chiếc MiG-21 vào mục tiêu, nhắc nhở mỗi người trẻ rằng: lòng yêu nước, ý chí kiên cường và trách nhiệm với đồng bào không phải là những khái niệm lý thuyết suông, mà là sự dấn thân, là hành động cụ thể và cao cả nhất trong cuộc sống. Tấm gương của Vũ Xuân Thiều là minh chứng sống động cho sức mạnh bất khuất của truyền thống Việt Nam, thôi thúc chúng ta không ngừng học tập, rèn luyện để xứng đáng với những gì anh và thế hệ cha anh đã hy sinh. Sự biết ơn của thế hệ tiếp nối được khắc ghi một cách trang trọng và bền vững. Ngày nay, khi đi qua các tuyến phố hay bước vào cổng trường học tại Hà Nội và nhiều địa phương khác, chúng ta dễ dàng bắt gặp những tấm biển mang tên Vũ Xuân Thiều. Việc lấy tên Anh hùng Liệt sĩ, phi công quả cảm này để đặt tên cho các công trình công cộng, đặc biệt là trường tiểu học Vũ Xuân Thiều tại quận Long Biên, không chỉ là hành động tưởng niệm lịch sử. Đây là một sứ mệnh giáo dục thiêng liêng, giúp thế hệ mầm non hôm nay được tiếp xúc và thấm nhuần truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, hun đúc lý tưởng sống cao đẹp. Những con đường, mái trường mang tên anh chính là lời nhắc nhở thường trực về cái giá của hòa bình, thôi thúc tuổi trẻ hôm nay không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện để xứng đáng với sự hy sinh của cha anh.


